Top 14 # Skkn Một Số Biện Pháp Chế Biến Món Ăn Cho Trẻ Mầm Non / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | X-bikeman.com

Skkn Một Số Biện Pháp Chế Biến Món Ăn Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non Tân Ước / 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SƠ YẾU LÝ LỊCH

Họ và tên : Nghiêm Thị ThảoNgày tháng năm sinh : 20/12/1988Năm vào ngành : 2012Chức vụ : Cô nuôi Đơn vị công tác : Trường mầm non Tân Ước Trình độ chuyên môn : Trung cấp nấu ăn Hình thức khen thưởng : Lao động tiên tiến cấp cở sở

Năm học 2015 – 2016

PHỤ LỤC

DANH MỤCTRANG

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:1. Lý do chọn đề tài2. Đối tượng phạm vi thực hiện

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1. Cơ sở lý luận:

2. Thực trạng

c. Khảo sát thực trạng

3. Các biện pháp thực hiện

* Biện pháp 1: Tìm tòi học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả năng chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo và nhà trẻ

*Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo.

* Biện pháp 3: Cách chế biến món ăn cho trẻ nhà trẻ và mẫu giáo.

*Biện pháp 4: Xây dựng thực đơn theo mùa.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

PHẦ III: Kết luận

1. Bài học kinh nghiệm

2. Khuyến nghị.

4. Tài liệu tham khảo

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tàiTrẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha anh.Như chúng ta đã biết, gia đình là nền tảng của xã hôi. Trong đó, trẻ em nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình; là tế bào; là mầm xanh; là chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vậy để giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc kết hợp hài hòa giữa việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe và giáo dục là tất yếu. Nói đến qúa trình chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non thì các cô phải chăm sóc như thế nào để có được một cơ thể tốt, một sức khỏe tốt đó mới là điều quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, các cô giáo và nhất là các cô nuôi chúng tôi. Đòi hỏi các cô nuôi phải có trình độ chuyên môn về nuôi dưỡng và phải có tinh thần yêu nghề mến trẻ, phải luôn luôn tìm tòi học hỏi những kinh nghiệm về chế biến các món ăn để vận dụng vào công việc chăm sóc trẻ của mình tại trường.Để trẻ phát triển tốt về thể chất như đã nêu ở trên thì chúng ta phải cân đối hài hoà hợp lý giữa các chất dinh dưỡng với nhau để chế biến những món ăn ngon, giúp trẻ ăn ngon miệng và hết suất của mình, nhằm giúp trẻ tăng cướng sức khoẻ làm cơ sở cho sự phát triển của nhiều hoạt động mà trẻ tham gia ở gia đình cũng như ở nhà trường một cách tốt nhất, quan trọng hơn là sự phát triển về nhân cách cho trẻ.Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, hiệu phó nuôi dưỡng cùng các cô nuôi đã thường xuyên thay đổi thực đơn theo mùa để đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất, song bên cạnh đó tôi vẫn thấy còn một số trẻ ăn chưa ngon miệng và hết xuất của mình và còn một số trẻ không ăn thịt, ăn rau. Điều đó đã thúc đẩy tôi chọn đề tài “Một số biện pháp chế biến món ăn cho trẻ ở trường mầm non Tân Ước”. Bên cạnh đó tôi có cơ hội tìm tòi học hỏi nhiều hơn nữa những kinh nghiệm về chế biến món ăn để giúp trẻ có những bữa ăn ngon miệng. Giúp trẻ có một cơ thể khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian thực hiện đề tài:Đối tượng và phạm vi: Là các cháu

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chế Biến Món Ăn Cho Trẻ Mầm Non / 2023

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHẾ BIẾN MÓN ĂN CHO TRẺ MẦM NON A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài: Hiện nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn, trình độ dân trí cũng được nâng cao. Chính vì vậy việc chăm sóc giáo dục trẻ được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm. Vậy quan tâm như thế nào là đúng mực để cơ thể trẻ khỏe mạnh, học tốt phát triển cân đối thì trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý, khoa học nhằm giúp trẻ ăn uống ngon miệng nhưng luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong trường mầm non việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho trẻ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhưng việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ như thế nào để đảm bảo. Điều này thật không dễ, nó luôn đòi hỏi chúng ta phải có những sang kiến và hiểu biết về nấu ăn cho các bé một cách khoa học nhất. Ở trường mầm non trẻ thường được ăn hai bữa là bữa trưa và bữa xế.Trong đó bữa ăn trưa là bữa chính và quan trọng nhất. Thông qua bữa ăn trưa, trẻ được bù đắp những năng lượng đã tiêu hao và cung cấp năng lượng để tham gia và các hoạt động mới. Việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Thức ăn có hình thức đẹp, mùi vị hấp dẫn thì sẽ gây cảm giác thèm ăn cho trẻ.Vậy làm thế nào để trẻ ăn ngon miệng, hết xuất? Đó là vấn đề mà tôi và nhiều bạn đồng nghiệp luôn luôn quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình tham gia nấu ăn tại trường mầm non. Để đảm bảo cho các cháu có một bữa ăn thật ngon miệng người đầu bếp phải biết một số kỹ thuật chế biến các món ăn làm sao cho các món ăn vừa đảm bảo các chất dinh dưỡng, thức ăn phải mềm nhừ, đảm bảo cho các cháu ăn được hết suất, màu sắc của món ăn phải đặc trưng của từng món ăn. 1

2

Một số cơ sở kinh doanh và gia đình ham lợi nhuận nên đã nuôi động vật cho ăn bột tăng trọng, rau quả dùng thuốc bảo vệ thực vật gây khó khăn cho các trường mầm non tổ chức bán trú chọn mua thực phẩm. Giá cả thực phẩm lên xuống bấp bênh. 2. Kết quả khảo sát thực trạng: Trước khi áp dụng các biện pháp mới tôi đã lập ra bảng khảo sát chất lượng đầu năm đối với trẻ và đã có kết quả như sau:

Tổng số trẻ ăn bán trú

520

Trẻ ăn ngon

Kết quả khảo sát Trẻ ăn hết xuất

miệng, ăn hết

nhưng chưa ngon

xuất Số trẻ Tỉ lệ %

135

26.5

310

60.8

Tỉ lệ %

12.7

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Các giải pháp thực hiện: 1. Biện pháp 1: Tìm tòi học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả năng chế biến món ăn cho trể mẫu giáo. 2. Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh, phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo. 3. Biện pháp 3: Cách chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo 4. Biện pháp 4: Xây dựng thực đơn theo mùa. II. Các biện pháp tổ chức để thực hiện: Thực phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người phát triển, duy trì sự sống và lao động, đồng thời nó cũng cho con người một sức khởe tốt. Nhưng nếu chúng ta không biết bổ sung dinh dưỡng một cách hợp lý thì sẽ không có kết quả như mong đợi. Để làm tốt được công tác chăm sóc phù ở trong gia đình chúng ta và đặc biệt là ở trường mầm non thì theo tôi chúng ta phải tuân thủ theo các biện pháp sau:

3

5

+ Đối với thịt bò: Ta nên chọn thịt có màu đỏ tươi, mỡ màu vàng nhạt, thớ thịt nhỏ săn chắc, mềm dẻo có mùi thơm đặc trưng. Trước khi mang chế biến thực phẩm cho trẻ thì chúng ta phải rửa sạch sau đó thái nhỏ và cho vào cối say nhỏ ( Tuỳ từng độ tuổi). Thực phẩm được sơ chế ở trên bàn hoặc bệ sạch để đảm bảo vệ sinh. –

Đối với các loại hải sản như: tôm, cua, cá…

Tôm, cua, cá…rất tốt cho con người chúng ta và đặc biệt là trẻ thơ vì nó cung cấp chất can si, chất đạm làm cho xương của trẻ chắc khoẻ hơn và không bị bệnh còi xương. + Đối với Tôm: Chúng ta nên chọn những con còn sống, mình của tôm phải trắng trong khi sơ chế phải làm sạch, bóc vỏ, đầu. Đầu và dâu tôm dùng để nấu canh. + Đối với cá: Ta nên chọn những con cá bơi khoẻ, còn nguyên vẩy không bị chầy sước. Khi sơ chế chúng ta nên đập chết cá và đem rửa sạch, đánh vẫy cho vào nồi luộc sau đó gỡ bỏ xương, sau đó phần đầu và phần xương dã nhỏ lọc lấy nước nấu canh. Ngoài việc lựa chọn các loại thực phẩm cung cấp chất đạm chúng ta còn phải lựa chọn những thực phẩm cung cấp vitamin và chất sơ như rau, của, quả. + Đối với rau: Chúng ta cần lựa chọn những cửa hàng quen thuộc. Chọn rau phải tươi ngon không bị dập nát hoặc vàng úa. + Đối với loại hạt, củ, quả khô: Khi mua chúng ta không nên chọn những thực phẩm bị mốc, mọt. Nhất khi chọn gạo, bánh đa khổ, lạc, vừng nên chọn những loại gạo ngon, không có mấy chấu, không có sạn, không có mọt, không có mùi hôi, không bị mốc… + Đối với bún và phở tươi: Chúng ta cũng nên chọn các cửa hàng tin cậy. Trước khi cho trẻ ăn chúng ta nên đi kiểm dịch mẫu rồi cho trẻ ăn vì trong thực phẩm này các nhà sản xuất thường sẻ dụng hàn the và bánh phở không có mùi chua. 6

+ Đối với thực phẩm làm gia vị: như nước mắm, dầu…Khi mua chúng nên chú ý đến hãng sản xuất và thời hạn sử dụng cuả sản phẩm để đảm bào được an toàn. Như chúng ta cũng đã biết quá trình lựa chọn thực phẩm cũng góp phần không nhỏ trong quá trình chế biến các món ăn ngon trong gia đình cũng như trong nhà trường. Bên cạnh việc đảm bảo vệ sinh cho các loại thực phẩm thì vấnđề vệ sinh nhà bếp cũng rất là quan trọng trong việc chế biến các thực phẩm vì vậy chúng ta nên thực hiện theo quy trình bếp một chiều và sắp xếp bếp một cách hợp lý, thường xuyên quét dọn bếp sạch sẽ ngăn nắp. Thùng đựng rác phải có nắp đậy và được sử lý hàng ngày. Ngoài ra các cô nuôi cũng phải đảm bảo vệ sinh trong quá trình chế biến như: đầu tóc, quần áo phải gọn gàng sạch sẽ, phải mặc tạp rề, đeo khẩu trang, đội mũ và đặc biệt khi sơ chế và chế biến các cô phải đi găng tay và phải cắt móng tay ngắn, không đựoc để móng tay dài vì như vậy các vi khuẩn trong móng tay sẽ sâm nhập vào thực phẩm làm mất vệ sinh. Từ đó mà chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh và phù hợp với trẻ mẫu giáo. Nếu chúng ta lựa chọn những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh , tươi ngon thì bữa ăn của chúng ta không mang lại giá trị dinh dưỡng cao. Qua việc nghiên cứu đề tài trên tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm về lựa chọn thực phẩm, tôi đã áp dụng vào việc lựa chọn thực phẩm cho gia đình mình và nhà trường, để chế biến những món ăn ngon ở nhà và ở trường (ảnh)

7

Lựa chọn thực phẩm 3. Biện pháp 3: Cách chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo Như chúng ta cũng đã thấy quá trình phát triển của trẻ được phân chia ra thành nhiều thời kỳ và giai đoạn khác nhau. Nên việc chế biến các món ăn cho trẻ cũng phải tuân thủ theo các thời kỳ và các giai đoạn khác nhau để phù hợp với từng độ tuổi đảm bảo cho quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng để nuôi sống cơ thể, ở đây việc chế biến các món ăn cho trẻ mẫu giáo đòi hỏi các cô nuôi phải hiểu rõ nhu cầu dinh dưỡng của từng độ tuổi để có thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ một cách phù hợp, giúp trẻ phát triển về thể chất tốt nhất. Đối với trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng, các cô nuôichúng tôi xây dựng thực đơn thường phối hợp các loại thực phẩm với nhau để cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, đồng thời kết hợp các thực phẩm còn gây hứng thú cho trẻ, trẻ nhìn thấy hấp dẫn đẹp, trẻ sẽ rất thích ăn. Với trách nhiệm là bếp trưởng tôi luôn nhắc nhở chị em trong tổ luôn phải coi trọng công tác chế biến món năn cho trẻ sao cho phù hợp với trẻ. Khi

8

Để món ăn thêm phần hấp dẫn và để dễ ăn tôi đã chế biến thêm nước xốt để dưới lên mặt của thịt trứng giúp trẻ ăn ngon miệng và dễ ăn. + Với món khoai tây, cà rốt nấu thịt: Tôi lựa chọn các thực phẩm sau: Thịt lợn, khoai tây, cà rốt, cà chua… Tôi đem những thực phẩm đã lựa chọn rửa sạch và sơ chế: thịt thái nhỏ đem say, khoai, cà rốt thái hạt lựu với kích thước khoảng 1cm rồi đem tẩm ướp gia vị rồi cho vào xoong sào cho khoai và cà rốt mềm và ngấm gia vị. Cà chua thái nhỏ và đổ dầu vào đun lên mầu rồi thôi. Đun nước sôi sau đó khuấy thịt đã say vào xoong sau đó đun cho đến sôi , chút cà chua và khoai tây, cà rốt vào nồi thịt đã đun. Và tiếp tục đun cho đến khi thực phẩm chín, nêm gia vị cho vừa rồi bỏ hành mùi tàu vào rồi bắc ra. – Bữa chiều: + Bánh bao + Uống sữa đặc có đường Với món bánh bào thì tôi cần những nguyên liệu sau: Thịt lợn, miến, nấm hương, bột mì, trứng cút,…Giống như các món ăn trên đầu tiên tôi đem các thực phẩm rửa sạch, nấm hương, mọc nhĩ, miến rửa sạch đem ngâm rồi thái hoặc say nhỏ.Trứng cút rửa sạch rồi cho vào nồi luộc rồi bóc bỏ vỏ. Tôi chộn bột mỳ với bột nở, dầu, đường, đều nên sau cho nước vào và nhào đều đến khi thấy bột mềm dẻo không dính tay là được, sau đó cho vào ủ khoảng 1 – 2 giờ là đựơc. Bỏ thịt, miến, nấm hương, mọc nhĩ vào sào cho chín và ngấm gia vị cho hành mùi tàu và bắc ra. Lấy bột ra chia nhỏ bột sau đó dàn đều bột ra cho thịt , miến, nấm hương, mộc nhĩ, trứng cút vào và xoáy miệng vào là tôi đã được một cái bánh bao rồi. Để bánh bao ăn ngon và không bị khô tôi đã cho trẻ uống thêm cốc sữa để giúp trẻ ăn ngon, dễ ăn và lại rất tốt cho sức khoẻ.

10

Qua quá trình nghiên cứu đã cho tôi thấy rằng để chế biến được một món ăn thì chúng ta phải trải qua biết bao nhiêu công đoạn và theo tôi chúng ta nên chế biến theo quy trình bếp một chiều từ thực phẩm sống � làm sạch � rửa � thái nhỏ � nấu chín � chia ăn …Đây là một qua trình rất phù hợp

cho công tác chế biến nó giúp chúng ta rút ngắn được thời gian và công sức. Bên cạnh đó còn đảm bảo an toàn vệ sinh. Khi chế biến các thực phẩm xong chúng ta nên đậy vung lại để đảm bảo không cho các vi khuẩn xâm nhập vào thức ăn. Làm thế nào để trể thích thú với giờ ăn, ăn ngon miệng, hết xuất, thì các cô nuôi phải thường xuyên thay đổi cách chế biến món ăn sao cho phù hợp với trẻ tạo cho trẻ cảm giác ngon miệng khi ăn. (ảnh)

11

12

Trưng bày sản phẩm tại hội thi”cô nuôi giỏi”. 4. Biện pháp 4: Xây dựng thực đơn theo mùa: Thực đơn là khẩu phần tính thành lượng thực phẩm để chế biến dưới dạng các món ăn, sau khi sắp xếp thành bảng món nă, tuỳ từng bữa ăn hàng ngày, hàng tuần cho trẻ. Ngoài ra xây dựng thực đơn nhằm chủ động cho việc thực hiện kế hoạch ăn uống cho phù hợp đối với trẻ, đặc biệt là trẻ mẫu giáo. Khi xây dựng thực đơn cần chọn những thực phẩm theo mùa và có sẵn ở địa phương để tiện cho việc tiếp ứng thực phẩm. Thường xuyên thay đổi thực đơn đẻ chế biến các món ăn được đa dạng, phong phú giúp trẻ ăn ngon miệng và hết suất của mình. Ngoài ra ta cần lưu ý đến sự phối hợp các thực phẩm, các chất để tạo nên một bữa ăn ngon, ta phải tận dụng sự bổ sung lẫn nhau giữa các chất để nâng cao giá trị dinh dưỡng của các món ăn.

13

Chúng ta cần quan tâm đến mỗi bữa ăn của trẻ thì phải chó đủ bao nhiêu thực phẩm và bao nhiều chất cho phù hợp và cần phải xây dựng thực đơn phù hợp theo độ tuổi. Một ngày thì trẻ cần đủ các chất dinh dưỡng sau: đạm, chất béo, bột đường, vitamin…từ đó mà ta có thể xây dựng được thực đơn đầy đủ các chất trong một ngày cho trẻ. Đây là thực đơn mùa đông và mùa hè cho trẻ mẫu giáo trường tôi đã xây dựng và thực hiện trong quá trình mà tôi nghiên cứu đề tài. Đây là thực đơn đầy đủ chất dinh dưỡng và đạt hiệu quả cao trong suốt một tuần. Mỗi ngày ở trường thì trẻ mẫu giáo được ăn một bữa chính và một bữa phụ: Thứ Bữa

Sáng

Chiều

Thực đơn mùa đông: Thứ 2

Thứ 3

Thứ 4

Xôi gấc

Cháo thịt gà nấu rau cải

Bánh rán

Thứ 5

Xôi thịt băm

Để chế biến các món ăn trong thực đơn mùa đông giá rét tôi thường xuyên trao đổi với chị em trong tôt cùng các cô giáo trên lớp, rút ra kinh nghiệm trong chế biến có thể thêm một số các gia vị hoặc thực phẩm để giúp dác trẻ ăn ngon miệng hơn hoặc bớt một số gia vị hoặc thực phẩm mà trẻ không thích ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, để qua trình chăm sóc trể của chúng ta đạt hiểu quả, vì thế khi xây dựng thực đơn chúng ta phải chọn những

14

thực phẩm phù hợp với tuổi và theo mùa để đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng và lượng calo cho trẻ trong một ngày đạt từ 730 � 830 calo/ trẻ Thực đơn mùa hè: Thứ Bữa

Thứ 2

Thứ 3

Chiều

Cháo thịt rau cải lạc vừng

Phở ngan

Thứ 4

Thứ 5

Thứ 6

Cháo chai

Bún sườn (chả)

Với mùa hè oi bức và nóng lực trường tôi đã chọn các loại thực phẩm phù hợp với mùa, giúp cho trẻ cảm giác ăn ngon miệng và mát mẻ để xua đi cái nóng lực mà thời tiết đã tạo ra. Trong quá trình thực hiện chế biến các món ăn trên thực đơn đã xây dựng tôi thấy các cháu hứng thú đến giờ ăn, ăn rất ngon và hết suất của mình. Với thực đơn này thì lượng calo và các chất dinh dưỡng trong khẩu phần của trẻ đạt kết quả cao. Trong năm học 2011 – 2012 ở trường tôi. So với mức calo đầu năm của trường tôi chưa đạt theo tiêu chuẩn mà bộ giáo dục đề ra, nhưng đến nay thì với sự thay đổi thực đơn theo mùa kết hợp với đố là thay đổi cách chế biến món ăn đã cho trường tôi kết quả khả quan. Khi xây dựng thực đơn chúng ta cần chú ý đến quá trình kết hợp các thực phẩm và các chất với nhau sao cho phù hợp, để trẻ có cảm giác thích thú khi đến giờ ăn, ăn ngon miệng và hết suất. Bên cạnh đó chúng ta cần phải làm

15

thế nào để cho trẻ yêu ngôi trường của mình hơn, lúc nào cũng có cảm giác muốn đến trường để được ăn những món ăn ngon do các cô nuôi chế biến. Từ đó tôi và các chị em trong tổ thường xuyên trao đổi với nhau về xây dựng thực đơn như thế nào để phù hợp với trẻ để trả lơì câu hỏi trên thì tôi và các chị em luôn tìm tòi và học hỏi nhiều hơn trong qua trình chế biến để giúp trẻ ăn ngon miệng và hết suất, đồng thời giúp cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng của chúng tôi đạt kết quả cao hơn. C.

KẾT LUẬN

1. Kết quả nghiên cứu: Qua quá trình áp dụng và thực hiện một số biện pháp trên đã cho tôi kết quả sau: Kết quả khảo sát sau khi thực hiện các giải pháp trên Tổng số trẻ ăn bán trú

520

Số trẻ

380

74.5

130

Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất

25.5

Trẻ ăn chưa hết xuất Số trẻ

0

0

Qua kết quả đánh giá ở trên đã cho chúng ta thấy được sự thay đổi thực trạng của trẻ rõ rệt ở đầu năm và cuối năm, điều đó chứng tỏ được khả năng chế biến của các cô nuôi ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó cách xây dựng thực đơn và việc thay đổi thực đơn, cách chế biến món ăn cho trẻ trở lên phong phú đa dạng hơn giúp trẻ ăn ngon miệng hết xuất. 2. Bài học kinh nghiệm: Qua quá trình thực nghiệm các biện pháp trọng tâm tại trường đã cho tôi cũng như các cô trong trường lĩnh hội được một số kinh nghiệm chế biến các món ăn trong gia đình cũng như trong trường mầm non.

16

17

Quảng Tâm, ngày 15 tháng 03 năm 2015 Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người thực hiện

Lê Thị Bình

18

MỤC LỤC A. ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………………….1 I. Lý do chọn đề tài:………………………………………………………………………………1 1. Thực trạng……………………………………………………………………………………….2 2. Kết quả khảo sát thực trạng:…………………………………………………………….3 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ…………………………………………………………………….3 I. Các giải pháp thực hiện:……………………………………………………………………3 II. Các biện pháp tổ chức để thực hiện:………………………………………………….3 1. Biện pháp 1: Tìm tòi học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả năng chế biến món ăn cho trể mẫu giáo……………………………………………………………….4 2. Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh, phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo……………………………………………………………………………………………..4 3. Biện pháp 3: Cách chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo………………………….8 4. Biện pháp 4: Xây dựng thực đơn theo mùa:………………………………………13 C.

KẾT LUẬN………………………………………………………………………………….16

1. Kết quả nghiên cứu:………………………………………………………………………..16 2. Bài học kinh nghiệm:………………………………………………………………………16 3. Kiến nghị, đề xuất:…………………………………………………………………………..17

Đề Tài Một Số Biện Pháp Quản Lý Bếp Ăn Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường Mầm Non Họa Mi / 2023

Thực phẩm sau khi mua về phải được chế biến ngay: Ngâm kỹ, rửa sạch. Các loại rau quả tươi phải gọt vỏ, làm sạch ngâm vào nước muối, rửa sạch dưới vòi nước chảy để loại trừ ký sinh trùng, tàn dư của thuốc bảo vệ thực vật các loại thực phẩm động vật cũng tiến hành rửa và làm sạch dưới vòi nước chảy. Sơ chế thực phẩm trên bàn hoặc kệ tránh để trên đất hoặc quá gần đất, lựa chọn phần sử dụng được, loại bỏ các loại tạp chất, vật lạ, côn trùng lẫn trong thực phẩm như: sạn, lông, tóc, các mãnh kim loại, giun sau khi sơ chế nếu chưa chế biến phải bảo quản trong tủ lạnh đảm bảo thực phẩm tươi sống, hàm lượng các chất dinh dưỡng ít bị mất.

Thực phẩm trước khi chế biến

*Để riêng thực phẩm sống và chín:

Trong thực phẩm sống đặc biệt là thực phẩm động vật như thịt các loại, hải sản có thể chứa nhiều vi sinh vật gây hại, chúng có thể truyền sang các loại thực phẩm khác trong quá trình chế biến, bảo quản vì vậy không để lẫn với thực phẩm khác mà phải để riêng. Các dụng cụ như dao, thớt chế biến các loại thực phẩm sống và chín cũng phải riêng biệt.

hà bếp dựa trên thông tư Số: 30/2012/TT-BYT liên tịch của bộ y tế và ngành Giáo dục ban hành nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn của trường Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm. Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm. Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mãn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư. Chính những vấn đề cấp bách đặt ra này đã khiến tôi phải suy nghĩ để tìm ra các biện pháp, giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho bếp ăn của nhà trường. 2. Thực trạng về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Họa Mi. Xã Quảng Điền là xã nằm cuối cùng của huyện Krông Ana. Đa số làm nông nghiệp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp nên nhận thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế đặc biệt là vấn đề đầu tư chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. Trường Mầm non Họa Mi nằm trên địa bàn xã Quảng Điền, gồm 5 điểm trường (1 điểm chính và 4 điểm lẻ) nằm cách xa nhau. Trường có đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên 27 người; gồm 9 lớp: 340 học sinh, học sinh nghèo là 23 em (chiếm 0.67% học sinh toàn trường). Trình độ tiếp thu kiến thức của trẻ còn hạn chế nhiều. Năm học 2016 - 2017 nhà trường tiếp tục thực hiện tổ chức ăn bán trú 100% cho trẻ. Từ những khó khăn thách thức trên đòi hỏi đội ngũ quản lý, giáo viên, công nhân viên toàn trường cần phải vượt qua để nâng dần chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho trẻ mẫu giáo trên toàn địa bàn xã. Hiện nay tình trạng ngộ độc thức ăn vẫn xảy ra thường xuyên ở các trường học, công ty, xí nghiệp trên cả nước nói chung và các hộ gia đình ở địa bàn xã Quảng Điền nói riêng, nặng thì dẫn đến tử vong, nhẹ thì cũng ảnh hưởng đến sức khỏe về sau này. Với sự phát triển của khoa học, Thuốc sâu và chất kích thích được sử dụng ngay cả đang trong mùa thu hoạch khiến cho người tiêu dùng dễ bị nhiễm độc mà đương nhiên người sản xuất cũng không dám dùng nguồn thực phẩm mà chính mình làm ra. Các loại rau, củ, quả kém chất lượng nhập lậu vào nước ta không kiểm soát được và được bán tràn lan trên thị trường. Ngay cả ngành chăn nuôi (gia súc - gia cầm) cũng cho động vật ăn cả hóa chất và thuốc kích thích mau lớn. Việc này có tác hại không nhỏ trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng tránh ngộ độc thực phẩm. Hiện nay, với sự phát triển khoa học cho ngành nông nghiệp mang đến lợi nhuận rất lớn cho người sản xuất và chăn nuôi, vì những lợi nhuận trước mắt họ bất chấp tất cả nhằm thu lợi cá nhân mà không hề nghĩ đến hậu quả. Trường mầm non Họa Mi chưa có bếp ăn một chiều mà chỉ có 1 bếp ăn tạm, diện tích hẹp, trang thiết bị bên trong bếp còn thiếu thốn, nguồn nước lấy từ giếng khoan, nơi cung cấp thực phẩm còn nhỏ lẽ, việc kiểm soát nguồn thực phẩm khá sơ sài chỉ thông qua hợp đồng mua bán không có tính pháp lý vì vậy việc xác định nguồn thực phẩm an toàn chưa đảm bảo. Đứng trước thực trạng này mọi người, mọi tổ chức cần phải quan tâm, vào cuộc và thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm ngăn chặn ngộ độc thực phẩm cho trẻ trong trường. Năm thứ tư mở bán trú cho trẻ 100% ăn trưa tại trường, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu theo Điều lệ trường mầm non, một số điểm lẻ chưa có nhà bếp, đường đi quá xa, nhân viên cấp dưỡng thiếu, nên việc vận chuyển cơm tới các điểm lẻ còn khó khăn. Chế độ cho nhân viên cấp dưỡng còn thấp không ổn định, điều kiện kinh tế của toàn thể nhân dân và quý bậc phụ huynh còn nghèo, sự quan tâm tới khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng của các cháu chưa được tốt. Việc áp dụng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con theo khoa học của phụ huynh còn hạn chế, lạc hậu. Số liệu 1: Đầu năm học Bảng khảo sát hiểu biết kiến thức VSATTP đối với đội ngũ CBGVCNV toàn trường TS GVNV được khảo sát Nội dung khảo sát Kết quả khảo sát Tốt Khá Trung bình Yếu TS % TS % TS % TS % 24 Kiến thức hiểu biết rõ về vệ sinh an toàn thực phẩm 8 33,3 10 41.6 5 20,8 1 0,4 Bảng khảo sát tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng TS Học sinh được khảo sát Nội dung khảo sát Kết quả khảo sát Bình thường Suy dinh dưỡng TS % TS % 340 Trẻ suy dinh dưỡng Béo phì 318 93,5 22 6,5 3. Nội dung và hình thức của giải pháp. a. Mục tiêu của giải pháp. - Biết cách kiểm tra, giám sát việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại trường. - Các nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm. - Các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm khi tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch Ngay từ đầu năm học căn cứ theo sự chỉ đạo của phòng Giáo Dục, của nhà trường tôi đã xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng và nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm hàng tháng và cả năm phù hợp với đặc điểm thực tế nhà trường. Chỉ đạo, phối kết hợp với nhân viên cấp dưỡng lên thực đơn ăn uống theo khẩu phần, đảm bảo cân đối các chất dinh dưỡng (P-L-G), năng lượng theo phần mềm dinh dưỡng, hàng ngày, hàng tuần, theo mùa, hợp lý, triển khai tới các bộ phận đoàn thể của nhà trường và triển khai sâu rộng trong toàn thể cha mẹ học sinh như: thông qua cuộc họp cha mẹ học sinh, tranh ảnh, thông qua hội thi, động viên phụ huynh cùng tham gia. Mua sắm đồ dùng bán trú, thay toàn bộ chén bát nhựa bằng chén inox, muỗng inox, ly inox. Nhân viên cấp dưỡng là người tham gia trực tiếp việc chế biến thực phẩm phải học qua lớp nấu ăn có bằng trung cấp và sơ cấp. Tham gia lớp tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, có giấy chứng nhận đủ điều kiện về sức khỏe do trung tâm y tế cấp huyện trở lên cấp. Xây dựng 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân viên cấp dưỡng, giáo viên và 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho phụ huynh và nhân dân cần biết. 10 nguyên tắc vàng và nội qui bếp ăn * Thành lập ban kiểm tra Sau khi xin ý kiến của nhà trường tiến hành thành lập ban kiểm tra bếp ăn gồm: + Người phụ trách công tác bán trú làm trưởng ban + Một nhân viên y tế phụ trách chăm sóc sức khỏe và môi trường. + Đại diện ban cha mẹ học sinh. Ban kiểm tra sẽ lên kế hoạch để kiểm tra bếp ăn định kỳ và đột xuất theo biên bản kiểm tra qua đó giám sát chặt chẽ nguồn nguyên liệu được nhập trước khi chế biến và quá trình chế biến thực phẩm đảm bảo dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Biện pháp 2: Vệ sinh nguồn nước Nước là 1 loại nguyên liệu tươi sống sử dụng trong nhiều công đoạn chế biến thực phẩm cũng như trong sinh hoạt nó có thể bị nhiễm các yếu tố nguy hại như vi sinh vật, vật lí và hóa học. Nước nhiễm bẩn sẽ tạo nguy cơ cho sức khỏe trẻ em nói riêng và cộng đồng nói chung. Đầu năm học nhà trường lấy nước để đi kiểm định nước sạch về vệ sinh an toàn. Thường xuyên kiểm tra nguồn nước nếu có biểu hiện bất thường phải báo ngay cho cơ quan y tế. Nếu dùng nước giếng, bể chứa thì phải có nắp đậy, miệng giếng, mặt bể chứa phải cách mặt đất ít nhất 1 mét, không bị ô nhiễm từ bên ngoài. Nước phải trong, không màu, không mùi, không vị lạ. Nếu nguồn nước nghi ngờ nên đề nghị cơ quan y tế kiểm tra. Các dụng cụ chứa đựng nước sạch để chế biến thức ăn phải được cọ rửa thường xuyên giữ gìn sạch sẽ. Nước uống của trẻ là nước bình, đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng được nhà trường hợp đồng từ đầu năm học, nước đã được kiểm định đảm bảo chất lượng. Biện pháp 3. Vệ sinh môi trường Vị trí nhà bếp, nhà ăn phải đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường và phải cách biệt với khu vực nhà vệ sinh và các nguồn lây nhiễm khác. Bếp phải được vệ sinh khử khuẩn hằng ngày và chia riêng biệt từng khu như: Tiếp nhận thực phẩm, Sơ chế thực phẩm, Chế biến thực phẩm, Chia thức ăn. Các khu vực phải có biển hiệu rõ ràng. Phòng ăn, bàn ăn, bàn chế biến thực phẩm, hoặc nơi bảo quản thực phẩm phải được giữ vệ sinh sạch sẽ. Khu vực nhà bếp phải trang bị tủ chén, tủ đựng nguyên liệu đảm bảo không cho các loại côn trùng như chuột, gián, ruồi nhặn xâm nhập vào khu vực chứa thực phẩm, thùng chứa thức ăn thừa có nắp đậy kín, không để thức ăn thừa, nước thức ăn vung vãi rò rĩ ra ngoài. Mặt sàn khu rửa và sơ chế thực phẩm cần có độ dốc để dễ thoát nước, hệ thống cống rãnh thông thoáng, không ứ động, phải có nắp đậy. Thùng chứa rác thải phải có nắp đậy kín, để tập trung cách xa khu chế biến thức ăn, phòng ăn và được chuyển đi hàng ngày xử lý không để ứ đọng. Xung quanh khu vực nhà bếp phải được quét dọn, vệ sinh thường xuyên, nhân viên y tế có kế hoạch hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng kiểm tra nhằm đảm bảo môi trường bếp ăn sạch sẽ thông thoáng. Biện pháp 4: Vệ sinh nguyên liệu, dụng cụ chế biến: Để có một sản phẩm tốt không thể từ một nguyên liệu kém, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh. Nguyên liệu kém chất lượng có thể nhiễm vi sinh vật ngay từ khi chăm sóc, nuôi trồng hoặc từ môi trường bảo quản, dụng cụ chứa đựng không đảm bảo vệ sinh, quá trình chế biến không phù hợp, không đảm bảo vệ sinh đều ảnh hưởng chất lượng của sản phẩm. Nguyên liệu dùng cho chế biến thực phẩm trong bếp ăn gồm nhiều loại có thể phân thành 2 nhóm nguyên liệu chính: Nhóm có nguồn gốc thực vật, nhóm có nguồn gốc động vật: Nhóm có nguồn gốc động vật: như thịt, cá, trứng, sữa. là nhóm cung cấp nhiều dinh dưỡng dễ hấp thụ như prôtêin, vitamin, khoáng chất Nhóm có nguồn gốc thực vật như: các loại rau, quả, củ, hoaTheo các chuyên gia vệ sinh an toàn thực phẩm nên chọn những loại thực phẩm tươi, màu sắc, mùi vị phù hợp, có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo trong thời hạn sử dụng cụ thể: thịt không đục, bở, tôm cá mắt phải trong. Các loại rau, quả, củ, hoa còn tươi, nguyên vẹn, có màu sắc tự nhiên, không héo, úa vàng, có biểu hiện thối nhũn, dập nát, không có mùi vị của chất lạ, các loại củ đã nẩy mầm (chú ý các loại rau quả củ có nguy cơ nhiễm thuốc bảo vệ thực vật)Tuyệt đối không vì ham rẻ mua những loại thực phẩm đã hết hoặc gần hết thời gian sử dụng, không rõ nguồn gốc, có màu sắc, mùi vị lạ, ôi thiuTận dụng những khoảng đất trống để trồng để làm vườn rau sạch của bé. Vệ sinh đồ dùng bếp ăn Dụng cụ sơ chế thực phẩm, dụng cụ chế biến thức ăn và dụng cụ phục vụ ăn uống phải được rửa sạch sẽ thường xuyên sau mỗi bữa ăn, phải được phơi khô, có tủ đựng đảm bảo vệ sinh tránh ruồi, gián, chuột dây vào. Tủ đựng đựng đồ dùng ăn uống Tủ đựng đựng đồ dùng ăn uống Biện pháp 5. Thực hành vệ sinh trong quá trình chế biến. * Sơ chế cẩn thận thực phẩm sống: Thực phẩm sau khi mua về phải được chế biến ngay: Ngâm kỹ, rửa sạch. Các loại rau quả tươi phải gọt vỏ, làm sạch ngâm vào nước muối, rửa sạch dưới vòi nước chảy để loại trừ ký sinh trùng, tàn dư của thuốc bảo vệ thực vậtcác loại thực phẩm động vật cũng tiến hành rửa và làm sạch dưới vòi nước chảy. Sơ chế thực phẩm trên bàn hoặc kệ tránh để trên đất hoặc quá gần đất, lựa chọn phần sử dụng được, loại bỏ các loại tạp chất, vật lạ, côn trùng lẫn trong thực phẩm như: sạn, lông, tóc, các mãnh kim loại, giun sau khi sơ chế nếu chưa chế biến phải bảo quản trong tủ lạnh đảm bảo thực phẩm tươi sống, hàm lượng các chất dinh dưỡng ít bị mất. Thực phẩm trước khi chế biến *Để riêng thực phẩm sống và chín: Trong thực phẩm sống đặc biệt là thực phẩm động vật như thịt các loại, hải sản có thể chứa nhiều vi sinh vật gây hại, chúng có thể truyền sang các loại thực phẩm khác trong quá trình chế biến, bảo quản vì vậy không để lẫn với thực phẩm khác mà phải để riêng. Các dụng cụ như dao, thớtchế biến các loại thực phẩm sống và chín cũng phải riêng biệt. Rửa tay sạch trước khi chế biến thực phẩm, trong quá trình chế biến sau mỗi công đoạn cũng phải rửa tay sạch sẽ nhất là sau khi đi vệ sinh, nếu sử dụng găng tay cũng phải tiến hành các thao tác vệ sinh tương tự. Các dụng cụ chế biến cũng đảm bảo yêu cầu vệ sinh trước, trong và sau khi chế biến, chú ý sau mỗi công đoạn cần rửa thật kỷ dụng cụ. Khu vực chế biến phải tuyệt đối đảm bảo các yêu cầu vệ sinh: Tiếp nhận thực phẩm một chiều, cách xa khu vệ sinh, khu chứa chất thải, hệ thống thoát nước thông thoáng không ứ động, tránh được sự xâm nhập của các loại côn trùng, ruồi, nhặng và các loại vật nuôi khác như gà vịt, mèo chó Đun nấu thực phẩm phải đạt độ sôi 1000C để đảm bảo tiêu diệt các loại vi sinh vật gây hại, an toàn cho người sử dụng. Chú ý những loại thực phẩm có kích thước lớn, nguyên con cần đun thật kỷ đảm bảo thời gian sôi để phần trung tâm của thực phẩm chín đều không có màu hồng. Biện pháp 6. Bảo quản và sử dụng thực phẩm Muốn có thực phẩm tươi ngon thì khâu tìm nguồn cung cấp thực phẩm an toàn là khâu quan trọng nhất vì vậy việc ký kết hợp đồng với nơi cung ứng thực phẩm phải uy tín, chất lượng, được ban kiểm dịch thực phẩm cấp phép. Để đảm bảo giá trị dinh dưỡng, kích thích tiêu hóa, tạo cảm giác ăn ngon miệng và an toàn cần sử dụng ngay sau khi chế biến: còn nóng, vừa nấu chín xong, không nên cho trẻ ăn thức ăn thừa còn lại của buổi ăn trước. Bảo quản cẩn thận thực phẩm: Thực phẩm sau khi nấu chín nếu chưa sử dụng phải tiến hành bảo quản, không nên để ở nhiệt độ phòng quá 2 giờ đồng hồ. Bảo quản thực phẩm trong tử lạnh cần chú ý: không đưa quá nhiều thức ăn còn ấm, đang nóng vào tủ lạnh, khi đưa vào tủ lạnh phải để trong các hộp có nắp đậy kín và để riêng biệt thức ăn đã nấu chín và thức ăn sống. Tủ lạnh phải làm vệ sinh sạch sẽ 1 đến 2 lần/ 1 tuần. Không để hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất gây độc khác ở khu vực chế biến, bảo quản thực phẩm, thức ăn cần che đậy tránh bụi, ruồi nhặng hay sự xâm nhập của các loại côn trùng và động vật khác. Thực phẩm phải được đóng gói theo yêu cầu ghi trên nhãn mác. Dầu ăn, mỡ phải được để trong các dụng cụ bằng thủy tinh có nắp đậy kín để nơi khô ráo thoáng mát, chú ý: không nên để dầu ăn, mỡ trong các dụng cụ bằng kim loại, không để nơi có nhiệt độ cao, nhiều ánh sáng, khi có màu sắc mùi vị không bình thường phải bỏ ngay, tuyệt đối không được sử dụng dầu ăn hoặc mỡ đã qua sử dụng. Biện pháp 7. Vệ sinh cá nhân * Vệ sinh của trẻ: Dạy trẻ có thói quen rửa tay, lau mặt theo quy trình hợp lí: Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi ăn, nhất là sau khi đi vệ sinh, súc miệng bằng nước muối Hướng dẫn trẻ kê bàn ghế, cho 4 - 6 trẻ ngồi một bàn, có lối đi quanh bàn dễ dàng. Chuẩn bị khăn mặt, bát thìa cốc uống nước đủ cho số lượng trẻ. Dạy trẻ thói quen văn minh lịch sự trong ăn uống như: lấy tay hoặc khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi. Hàng ngày cô giáo cần kiểm tra tay, móng tay của trẻ để vệ sinh và cắt móng tay kịp thời vì bàn tay là nguồn lay bệnh trực tiếp. Đối với trẻ phải được chăm sóc chu đáo đặc biệt là khâu vệ sinh vì sức đề kháng cơ thể còn yếu rất dể nhiễm bệnh. Cô giáo là người trực tiếp hướng dẫn giúp trẻ thực hiện các khâu vệ sinh cá nhân cần nhẹ nhàng hướng dẫn tập cho trẻ thực hiện trình tự các bước phù hợp để tạo thói quen cho trẻ. Tập cho các cháu tác phong ăn uống khoa học: Khi ăn ngồi đúng nơi quy định, không để rơi vãi cơm và thức ăn ra ngoài, không được nói chuyện khi đang ăn thức ăn hoặc cơm trong miệng. Giờ ăn của các cháu * Vệ sinh đối với cấp dưỡng: Cấp dưỡng phải được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, được bố trí nơi thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ tạo điều kiện tốt nhất cho cấp dưỡng được tham gia các lớp tập huấn hoặc các lớp bồi dưỡng những kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm giúp cho cấp dưỡng hiểu được trách nhiệm của mình là phải đảm bảo nuôi dưỡng trẻ luôn khỏe mạnh và an toàn. Cấp dưỡng phải thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến cho trẻ, luôn sử dụng tạp dề, khẩu trang, găng tay trong suốt quá trình chế biến. Đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh và rửa tay sau mỗi công đoạn chế biến. Dùng khăn lau tay riêng, được giặt và phơi khô hàng ngày. Phải tuân thủ theo quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo nguyên tắc một chiều, không tùy tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống, chín lẫn lộn. Không được khạc nhổ trong lúc chế biến thức ăn cho trẻ, khi nêm ném thức ăn còn thừa phải đổ đi. Khi chia thức ăn cho trẻ phải mang khẩu trang, găng tay và chia thức ăn bằng dụng cụ. Tuyết đối không dùng tay để bốc và chia thức ăn, thực hiện nghiêm túc việc phân chia thức ăn cho trẻ phải đảm bảo số lượng và định lượng.. * Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên phụ trách tại lớp: Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chăm sóc trẻ trong trường mầm non nhất là tại lớp bán trú. Nên công tác vệ sinh cá nhân của cô giáo cùng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy cô giáo phải rửa tay bằng xà phòng trước khi chia thức ăn và mang khẩu trang, găng tay, dùng dụng cụ chia thức ăn riêng. Chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, khăn lau tay, đĩa đựng thức ăn thừa cho trẻ, cô luôn động viên trẻ ăn hết suất. Tổ chức cho giáo viên được khám sức khỏe hằng năm. Giáo viên luôn ứng xử nhẹ nhàng đối với trẻ ở mọi lúc mọi nơi để tạo cho trẻ một tâm thế ổn định về thể chất lẫn tinh thần. Và không ngừng thu thập những thông tin quan trọng về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ nói riêng và người tiêu dùng nói chung để đúc kết và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc đảm bảo VSATTP trong trường mầm non. Biện pháp 8: Lưu mẫu thức ăn Lưu mẫu thức ăn nhằm phục vụ cho quá trình điều tra nếu xảy ngộ độc thực phẩm. Quá trình lưu mẫu phải đảm bảo 3 đủ: Có đủ dụng cụ để lưu mẫu, dụng cụ bằng inox, phải được rửa sạch, khử trùng, có nắp đậy, mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng. Có đủ lượng mẫu tối thiểu thức ăn đặc khoảng 150 gam, thức ăn lỏng khoảng 250ml. Đủ thời gian lưu mẫu là 24 giờ. Mẫu lưu bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh(0oC đến 5o C). Người lưu mẫu cần ghi đầy đủ ngày, giờ, tên người lấy mẫu thức ăn và niêm phong. Khi có ngộ độc thực phẩm xảy ra vẫn phải giữ niêm phong, chỉ mở khi có sự chứng kiến của các cơ quan chức năng. c. Mối liên hệ giữa các giải pháp, biện pháp. Đối với việc quản lý bếp ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường Mầm non thì việc thực hiện các giải pháp và biện pháp phải xuyên suốt, liên kết và lôgich nhau nhằm giúp cho người quản lý, nhân viên cấp dưỡng, đội ngũ giáo viên nắm rỏ, cụ thể vai trò trách nhiệm khi thực hiện. d. Kết quả khảo nghiệm khi thực hiện các giải ph

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chế Biến Món Ăn Cho Trẻ Mầm Non / 2023

Sang kien kinh nghiem danh cho cap duong, sang kien kinh nghiem ve sinh an toan thuc pham, sáng kiến kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, skkn mot so bien phap giup tre an ngon mieng, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non, cách chế biến món ăn cho trẻ mầm non, một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non, sáng kiến kinh nghiệm cách chế biến món ăn cho trẻ mẫu giáo,

Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, là nguồn hạnh phúc vô tận của mỗi gia đình, là nguồn động viên lớn giúp chúng ta quên đi mệt mỏi trong một ngày làm việc, là nguồn kế tục vẻ vang của ông cha ta và phát huy sự nghiệp của đất nước.

Vì vậy, mọi trẻ em khi sinh ra đều có quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng về mọi mặt để trẻ có thể phát triển toàn diện.

Quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ là nhiệm vụ của toàn xã hội nói chung và của các trường mầm non nói riêng. Bởi ở trường mầm non, cô phải chăm sóc thế nào để trẻ có một cơ thể khoẻ mạnh và một sức khoẻ tốt nhất, để từ đó tạo ra niềm tin từ các bậc phụ huynh khi gửi con tới trường.

Đó cũng là vấn đề mà ban giám hiệu nhà trường và toàn thể giáo viên – nhân viên chúng tôi đặt ra trong nhiệm vụ năm học 2015 – 2016. Để trẻ phát triển tốt về thể chất và phát triển toàn diện đòi hỏi các cô phải có trình độ về chuyên môn, phải có tinh thần yêu nghề, mến trẻ, phải luôn tìm tòi, học hỏi những kinh nghiệm chế biến các món ăn để vận dụng vào việc chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mình.

Trường mầm non B Đông Mỹ đã làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Ban giám hiệu và đội ngũ cô nuôi luôn tìm cách thay đổi thực đơn phong phú theo tuần, theo mùa, thay đổi cách chế biến để luôn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất

Bản thân là một cô nuôi, đã công tác 5 năm trong trường mầm non, tôi đã không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức từ những buổi kiến tập tại các các trường điểm do Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức. Tại bếp ăn, tôi luôn luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp của chị em đồng nghiệp và học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để từ đó tham mưu với ban giám hiệu nhà trường về chế độ thực đơn theo mùa, theo tuần của trẻ, cân đối hài hoà các chất dinh dưỡng với nhau giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất, nhằm giúp trẻ có thể lực và sức khoẻ tốt nhất khi tham gia mọi hoạt động mà trẻ được học tại trường.

Nhưng bên cạnh đó, khi tham gia phối hợp cùng các cô giáo cho trẻ ăn tại các lớp bé và nhà trẻ tôi nhận thấy: Còn một số trẻ kén ăn, ăn chưa ngon miệng, chưa hết xuất của mình, đó là điều tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để luôn đổi mới cách chế biến các món ăn cho trẻ để hấp dẫn trẻ hơn, kích thích trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất. Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài

” Một số kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ tại trường mầm non B xã Đông Mỹ”

Sáng kiến kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mầm non

Nuôi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Nuôi dưỡng đảm bảo chất lượng có tác dụng tăng cường và bảo vệ sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ phát triển tốt tạo điều kiện để thực hiện nội dung giáo dục toàn diện.

Muốn có chất lượng nuôi dưỡng tốt, trước hết là cô nuôi cần phải làm tốt việc chế biến món ăn cho trẻ, thực hiện tốt quy chế nuôi dạy trẻ, đặc biệt phải luôn tìm tòi, sáng tạo để nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ.

Bởi thực tế, trẻ 24-36 tháng đã ăn được cơm nát và ăn nhiều loại thức ăn hơn nhưng trẻ rất dễ bị chớ, nôn và khó ăn vì vậy cần có cách chế biến riêng: Chú ý tới thức ăn mềm, nghiền nát, nấu nhừ xay nhỏ. Trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi), trẻ có nhu cầu ăn ngon hơn và tiêu hóa được nhiều loại thức ăn hơn, thích lựa chọn các món ăn hấp dẫn với trẻ. Mặt khác, trẻ lại mau chán ăn và ít tập trung vào nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non.

Do đó, mỗi người lớn chúng ta phải quan tâm chăm sóc trẻ ngay từ nhỏ, xây dựng khẩu phần ăn, chế biên món ăn ngon phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với chế độ ăn của trẻ, sẽ giúp trẻ phát triển khoẻ mạnh và phòng tránh được các bệnh. Việc nghiên cứu các cách chế biến món ăn mới phong phú sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, trẻ ăn hết xuất, tăng cân.

– Trường mầm non B xã Đông Mỹ nằm ở cuối huyện Thanh Trì, trường có 1 khu, đã đạt chuẩn Quốc gia mức độ I năm 2010 và nhiều năm liền đạt danh hiệu “Trường tiên tiến” cấp huyện.

– Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 32 đồng chí.

+Trong đó: Ban giám hiệu 2, giáo viên 21, cô nuôi 5, nhân viên 4.

– Tổng số cháu ra lớp là 251 cháu được chia thành: 7 lớp 1 nhóm trẻ

( 24 – 36 tháng) và 6 lớp mẫu giáo.

– 100% trẻ ăn bán trú tại trường.

– Trường mầm non B xã Đông Mỹ đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 và luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục và đào tạo, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì.

– Trường có diện tích rộng 6652m2, diện tích sân, vườn chiếm 4200m2. Vườn trường được trồng nhiều loại rau theo mùa: rau ngót, rau cải, rau cải cúc, bầu, mướp, gấc, rau lang, su hào, bắp cải…..

– Trường có một khu, có đồ dùng phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, bếp ăn được xây dựng một chiều, đảm bảo vệ sinh (100% đồ dùng ăn uống cho trẻ được trang bị bằng inox).

– 4 cô nuôi có bằng trung cấp nấu ăn, 1 cô nuôi có bằng cao đẳng nấu ăn.

– Học sinh đi học đều, chuyên cần đúng giờ.

– Nhà trường ký hợp đồng thực phẩm với các chủ hàng là phụ huynh, các công ty nhà nước: Yêu cầu các chủ hàng có đầy đủ cam kết an toàn vệ sinh thực phẩm và đưa hàng ngon, giá cả đưa theo giá bán buôn (thấp hơn giá cả ngoài thị trường 1- 2 giá)

– Đội ngũ nhân viên còn trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề nên còn nhiều bỡ ngỡ trong công việc.

– Hiện nay giá cả các mặt hàng thực phẩm tăng nhanh, nên số tiền ăn của trẻ (17.000 đồng/ ngày) chưa đủ đáp ứng nhu cầu ăn uống cho trẻ.

– Thời tiết thay đổi dẫn đến nhiều dịch bệnh xảy ra như: dịch bệnh tiêu chảy, thủy đậu, sởi, sốt xuất huyết…

– Thời tiết thay đổi bất thường, giá cả thực phẩm biến động ngày một tăng cao, do đó việc thay đổi thực đơn cân đối khẩu phần và chế biến món ăn cho trẻ gặp nhiều khó khăn.

– Nhiều trẻ lớp bé kén ăn, ăn chậm, nhiều trẻ được gia đình quá nuông chiều thường xúc cho trẻ ăn, cho trẻ ăn dong..

I II. Các biện pháp thực hiện:

Biện pháp 1: Kết hợp với giáo viên tổ chức cho trẻ ăn ở trên lớp.

Mục đích của việc nâng cao chất lượng chế biến món ăn cho trẻ là: trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất. Khi đã xây dựng được thực đơn phong phú, đã lựa chọn và chế biến món ăn cho trẻ. Sau khi chế biến xong các món ăn và chia định lượng tại bếp, tôi đã đến từng lớp để trực tiếp cùng với các giáo viên tham gia tổ chức giờ ăn cho trẻ và ghi sổ rút kinh nghiệm từng ngày và tìm hiểu nguyên nhân trẻ ăn hết (không) hết suất, trẻ thích ăn món nào để kịp thời điều chỉnh rút kinh nghiệm…Nếu như trẻ thích ăn món nào tôi tiếp tục chế biến cho trẻ ăn.

Ví dụ: Khi chế biến món ” Canh cá quả nấu chua” tôi đã lên lớp để phụ giờ ăn và thấy trẻ rất thích món ăn này, tôi đã quan sát và trò chuyện với trẻ sau khi trẻ ăn xong như: Cô đã nấu rất nhiều món ăn trong tuần thế con thích món ăn nào nhỉ? Trẻ đã rất hồ hởi kể cho tôi nghe những món ăn mà các cháu thích như món: trứng tôm thịt đúc nấm hương, canh cua nấu rau cải,…..

Khi phụ giờ ăn lớp D1( Nhà trẻ) tôi thấy các cháu ăn rất ít đặc biệt là các cháu mới đi học, trẻ rất khó ăn cơm. Qua tìm hiểu tôi thấy cơm cần phải nấu nát hơn, các món ăn cần xay nhỏ hơn. Tôi đã cùng bàn bạc các cô nuôi cần nấu cơm cho trẻ nhà trẻ nát hơn cho thêm nước và với thịt cần xay nhỏ 3 lần, ninh kỹ mềm hơn để trẻ dễ ăn. Là bếp trưởng tôi đã phân công các cô nuôi giờ ăn phụ thêm vào các lớp bé và nhà trẻ để phụ giúp các cô cho cháu ăn đồng thời rút kinh nghiệm để chế biến món ăn cho trẻ ngon hơn, phù hợp hơn với trẻ.

– Tôi thường quan sát những cháu nào có biểu hiện biếng ăn, giảm cân hoặc cháu nào tăng cân, béo phì. Đề xuất ý kiến với ban giám hiệu nhà trường điều chỉnh lại thực đơn cho các cháu hàng ngày để phù hợp với thể trạng của các cháu đó, đồng thời, phối hợp với giáo viên các lớp tăng cường chăm sóc đặc biệt đến trẻ suy dinh dưỡng

+ Đối với cháu không tăng cân thì cố gắng thường xuyên động viên, khích lệ cho các cháu ăn hết xuất

+ Đối với các cháu có biểu hiện béo phì thì tôi khuyên các cháu ăn ít cơm, đường và trước khi ăn cho các cháu ăn nhiều rau quả.

Ngoài ra, chúng tôi đã lập sổ theo dõi khẩu vị ăn của trẻ, số lượng cơm, canh, thức ăn thừa hoặc thiếu, lý do để kịp thời điều chỉnh cách chế biến hàng ngày.

– Nếu món ăn trẻ không thích hoặc chế biến chưa đảm bảo thì tôi sẽ rút kinh nghiệm và trao đổi với ban giám hiệu và cùng với các chị em trong tổ nuôi để thay đổi cách chế biến phù hợp, hấp dẫn hơn để trẻ ăn ngon miệng và hết suất.

Biện pháp 2. Tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao khả năng chế biến món ăn cho trẻ:

Tôi luôn sưu tầm các sách dạy các món ăn: 55 món ăn ngon. 500 món ăn dễ chế biến, cách làm bánh, các loại nước sinh tố, các món ăn Âu Á… Ngoài ra, tôi luôn đọc báo, tham gia những buổi đi kiến tập của Huyện tổ chức. Khi có một món ăn mới tôi thường đọc kỹ để tìm hiểu các nguyên liệu, cách kết hợp, gia giảm các gia vị mới, cách chế biến chép và lưu lại thành bộ sưu tập các món ăn thành từng loại. Tôi thường xuyên mạnh dạn nấu những món ăn mà tôi vừa học hỏi ở nhà, để mọi người trong gia đình, các con nhỏ cùng thưởng thức và cho ý kiến nhận xét. Điều đó giúp tôi tự tin hơn trong công việc chế biến món ăn cho trẻ tại trường.

Qua ý kiến nhận xét của gia đình, cùng với kinh nghiệm chế biến của bản thân tôi đã lựa chọn được rất nhiều món ăn mới, ngon, phù hợp với trẻ và cùng đưa ra tham khảo với các bạn đồng nghiệp, tham mưu với ban giám hiệu để xây dựng thực đơn mới theo mùa. Hoặc cùng món ăn tôi đã tham mưu ban giám hiệu chỉ cần thay đổi thêm, bớt lượng rau, nguyên liệu mới là đã tạo ra hương vị mới cho món ăn đối với trẻ. Ví dụ: Món Cháo chim câu, thịt lợn, đậu xanh hoặc cháo chim câu, thịt lợn, rau cải cúc, cháo chim câu, thịt lợn, hạt sen….hoặc món canh cá quả nấu chua, cá rô phi nấu rau ngót, tôm nấu bí xanh, rau cải xanh nấu cá rô đồng, Bầu nấu cua, bầu nấu tôm, canh đậu phụ nấu cà chua…

Món đậu trạch xào thịt bò, đậu trạch xào thịt bò, cà rốt, nấm rơm, mướp hương xào thịt bò, canh ngũ sắc bao gồm 5 loại rau củ như: Đậu Hà lan, cà rốt, ngô hạt, khoai tây, su su. Các món ăn tôi nghiên cứu để xây dựng thực đơn chế biến cho trẻ thường rất dễ chế biến, nguyên liệu phù hợp theo mùa, có sẵn tại vườn trường, địa phương và có thể thay đổi dễ dàng thực đơn, thường dễ hơn để tính khẩu phần cho trẻ ăn cân đối, hợp lý..

Tr­êng mÇm non B x· ĐÔNG MỸ – N¨m häc: 201 5 – 201 6

Áp dụng từ ngày 1 tháng 11 năm 201 5

THỰC ĐƠN MÙA ĐÔNG TUẦN LẺ

TRƯỜNG MẦM NON B XÃ ĐÔNG MỸ – NĂM HỌC: 201 5 – 201 6

Áp dụng từ ngày 1 tháng 11 năm 201 5

thùc ®¬n mïa HÈ TuÇn ch½n

Tr­êng mÇm non B x· ĐÔNG MỸ – N¨m häc: 201 5 – 201 6

Áp dụng từ ngày 1 tháng 5 năm 20 16

TRƯỜNG MẦM NON B XÃ ĐÔNG MỸ – NĂM HỌC: 201 5 – 201 6

3. Biện pháp 3. Cải tiến phương pháp chế biến:

Chế biến món ăn ngon, đảm bảo cân đối không mất chất dinh dưỡng, hấp dẫn là nghệ thuật của mỗi cô nuôi. Để lôi cuốn trẻ ăn ngon miệng, khi chế biến các món ăn cho trẻ tôi thường phối hợp các loại rau, củ, quả có màu sắc đẹp tạo cho trẻ cảm giác hứng thú, thích ăn. Ngoài ra để tạo hương vị thơm, ngon đối với các món ăn tôi thường tẩm ướp thức ăn khoảng 10 -15 phút trước, phi hành, tỏi thơm sau đó mới đem xào nấu thêm các thực phẩm gia giảm.

Ngoài ra, để tăng cường bổ xung chất sắt cho trẻ đề phòng chống thiếu máu, trong khi chế biến, tôi thường giảm bớt lượng muối, tăng cường thêm nước mắm giàu dinh dưỡng (nước mắm bổ xung chất sắt), phối hợp thêm một số loại rau chứa nhiều vitamin C như Bắp cải: 30; Cà chua : 40; Bí ngô: 40; Mồng tơi là 72 để cơ thể trẻ dễ hấp thu chất sắt, phòng được nhiều bệnh khi chuyển mùa.

Khi chế biến món ăn tôi đã chú ý xay hoặc băm nhỏ các loại thịt, cá bỏ xương nấu nhừ, mềm cho trẻ dễ ăn, dễ hấp thụ, dễ tiêu hoá.

Có nhiều món ăn tôi đã cùng các cô nuôi thêm một số thực phẩm gia giảm và đổi mới cách chế biến mới rất đơn giản nhưng hiệu quả như:

– Tôm rửa sạch, bóc vỏ, bỏ đầu

– Trứng vịt rửa sạch, đập bỏ vỏ

– Thịt lợn rửa sạch, thái miếng xay nhỏ

– Cà chua rửa sạch, bỏ núm

– Hành mùi rửa sạch, thái nhỏ

– Phi thơm hành củ, cho cà chua vào xào chín với nước mắm, trút thịt lợn, thịt tôm vào xào cho thịt chín mềm, sau đó trút trứng vào đảo cho đến khi trứng chín bông, nêm gia vị vừa ăn, cho hành, mùi, tắt bếp chia theo định xuất.

– Tôm rửa sạch, bóc vỏ, bỏ đầu, đường phân cho vào say nhuyễn như giò.

– Trứng vịt rửa sạch, đập ra bát, tách riêng lòng trắng, lòng đỏ; đánh tan

– Thịt lợn rửa sạch thái miếng, say nhuyễn như giò sống

– Nấm hương, mộc nhĩ ngâm nở, cắt bỏ chân, rửa sạch để ráo nước. Nấm hương cánh dầy thái mỏng. Mộc nhĩ thái chỉ nhỏ

– Rau mùi sơ chế, rửa sạch, để ráo nước

– Vải phin nhúng vào nước sôi vắt ráo nước

– Giò lợn, tôm thúc nước mắm

– Dùng chảo chống dính cho một lớp dầu mỏng, đổ trứng vào tráng mỏng, tráng riêng một lá lòng đỏ, một lá lòng trắng, chia đôi giò sống, nấm, mộc nhĩ làm 2 phần

– Trải lá trứng lên khay, lớp đỏ trước lấy một phần giò dàn một lớp mỏng xếp nấm lẫn mộc nhĩ lên trên, phết thêm một chút giò mỏng lên nấm và mộc nhĩ

– Đặt 2 lá trứng so le nhau rồi cuộn lại, lấy vải phin cuộn bên ngoài, dùng dây lạt buộc xung quanh rồi đem hấp chín thời gian 20 phút. Trứng chín mềm, lớp cuộn không bong vỡ, vân xen lẫn màu vàng, nâu trắng, dậy mùi thơm của nấm, thái mỏng chai theo định xuất.

– Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, xay nhỏ

– Thịt gà rửa sạch lọc sườn thái miếng xay nhỏ

– Nấm hương rửa sạch, ngâm nở, cắt bỏ chân xay nhỏ

– Hành mùi nhặt bỏ rễ, rửa sạch thái nhỏ

– Cho dầu vào chảo, phi thơm hành, trút thịt gà lợn vào chảo xào chín mềm, chonước vào om kỹ cùng nấm, xay nhỏ, khi thịt chín mềm nêm gia vị vừa ăn, cho hành mùi vào, tắt bếp, chia theo định xuất.

– Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, xay nhỏ

– Thịt gà rửa sạch lọc sườn thái miếng xay nhỏ

– Nấm hương rửa sạch, cắt bỏ chân, ngâm nở, xay nhỏ

– Hoa lơ rửa sạch thái nhỏ

– Thịt gà, thịt lợn xay nhỏ đem ướp gia vị

– cà chua say nhuyễn, đun sôi dầu, cho cà chua đã say vào ninh thật nhừ

– Phi thơm hành cho thịt gà, lợn vào xào săn cho ngấm gia vị, tiếp đến cho lơ vào đảo cùng tới khi hỗn hợp chín mềm thì đổ nước sốt cà chua vào đảo đều, nhấc xuống chia theo định xuất.

– Thịt lợn rửa sạch, xay nhỏ

– Hành mùi rửa sạch, thái nhỏ

– Cho thịt xào kỹ, đổ nước ninh nhừ, tiếp đó cho đậu phụ vào nêm gia vị vừa ăn, thịt bột đao, đập trứng đánh tan tạo vân, cho hành mùi vào, tắt bếp.

– Thịt lợn rửa sạch thái miếng, xay nhỏ

– Tôm rửa sạch, bóc vỏ bỏ đầu, xay nhỏ ướp nước mắm.

– Giá nhặt sạch, thái nhỏ, gừng gọt vỏ say nhuyễn lấy nước. Rau hành mùi rửa sạch, thái nhỏ

– Cho thịt vào xào ninh lấy nước. Đun sôi nước dùng, cho tôm, đậu phụ vào đun sôi, sau đó cho nhỏ lửa rồi cho tiếp giá vào đun, nêm gia vị vừa ăn, sau đó xuống bột đao cho sánh, đập trứng đánh tan tạo vân, cho hành mùi vào, tắt bếp, chia theo định xuất.

* Cải tiến cách chế biến, thành phẩm món canh thập cẩm nấu thịt bò:

– Thịt bò xay nhỏ, xào riêng để ra bát

– Khi nước sôi ta cho khoai tây vào trước (vì khoai tây chín lâu hơn cà rốt, su hào)

– Khi đổ rau gần chín ta cho thịt bò vào đun chín cho cà chua lượng vừa đủ đun sôi nêm lại gia vị cho mùi tàu và hành, tắt bếp.

– Trạng thái: Rau chín đều, thịt bò thơm mềm, vị ngọt màu sắc hấp dẫn

– Nấm nhặt sạch cắt bỏ chân, rửa sạch , trần qua nước sôi rửa sạch, ngâm vào nước lạnh 15 dến 20 phút vớt lên rổ cho ráo nước rồi xay nhỏ.

– Thịt gà lọc bỏ xương xay nhỏ

– Nấm hương ngâm nước và xay nhỏ

– Phi hành thơm cho thịt gà vào đảo đều chín cho nấm và nấm hương vào đảo chín nêm gia vị vừa ăn cho hành vào rồi tắt bếp.

-Trạng thái: Vị ngọt, thơm mùi đặc trưng, vị vừa ăn.

Hình ảnh: Bữa chính canh thập cẩm nấu thịt bò – gà xào nấm (1 xuất )

Từ cách cải tiến phương pháp chế biến trên, tôi thấy đa số trẻ ăn ngon miệng, hết xuất.

4. Biện pháp 4. Tham gia hội thi cô nuôi giỏi các cấp.

Thông qua các hội thi giúp các cô nuôi chúng tôi được tham gia thể hiện hết tài năng, năng lực chế biến món ăn của mình. Trong hội thi cô nuôi giỏi các cấp còn mở ra các cơ hội để các cô nuôi trao đổi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau.

Đầu năm học 2015- 2016 công đoàn, ban giám hiệu nhà trường đã phát động tập thể giáo viên, cô nuôi đăng ký dự thi dạy giỏi các cấp. Là bếp trưởng tôi đã động viên 100% các cô nuôi tham gia dự thi cô nuôi giỏi cấp trường và đã có tôi mạnh dạn đăng ký thi cô nuôi giỏi cấp huyện, tham gia thi tìm hiểu về dinh dưỡng với sức khỏe trẻ mầm non qua mạng.

Để tham gia các hội thi đạt hiệu quả, tôi đã luôn học hỏi kiến thức về nuôi dưỡng trẻ mầm non, cách chế biến thực hành tại bếp theo quy trình bếp một chiều. Tích cực cùng các chị em trong tổ thực hành hàng ngày, cùng bàn và thực hiện theo qui trình chế biến một chiều hợp lý, không chồng chéo. Sơ chế, chế biến các món ăn đúng kỹ thuật, rút kinh nghiệm để tìm ra những cách sơ chế, chế biến khoa học nhất.

Sáng kiến kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ mầm non

Sau mỗi buổi thi chúng tôi được ban giám hiệu nhà trường kịp thời rút kinh nghiệm, đánh giá, góp ý. Hướng dẫn để tham gia thi cô nuôi giỏi cấp Huyện.

* Kết quả thi cô nuôi giỏi các cấp:

– Cấp trường: 5 cô nuôi đạt tốt

– Cấp huyện: Tôi đạt giải nhất hội thi giáo viên giỏi – nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Huyện.

Biện pháp 5. Phối kết hợp với phụ huynh.

Hàng ngày, trẻ được chăm sóc 10 giờ/ 1 ngày ở trường còn lại là thời gian chăm sóc trẻ của các bậc phụ huynh tại gia đình. Nếu như trẻ chỉ được chăm sóc tại trường mà không có sự chăm sóc của gia đình thì trẻ sẽ không được chăm sóc một cách toàn diện. Chính vì vậy để trẻ được chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện tốt nhất, phụ huynh là một cánh tay đắc lực phối hợp với nhà trường thực hiện tốt công việc này.

Là cô nuôi để việc chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ đạt kết quả tốt, tôi thường xuyên tham khảo ý kiến của phụ huynh trong các giờ đón trả trẻ, bài tuyên truyền, phiếu thăm dò để tuyên truyền phổ biến tới các gia đình cách chăm sóc, chế biến thức ăn hợp lý, khoa học, đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. Tôi đã phối hợp với giáo viên lựa chọn các bài tuyên truyền chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non, cách chế biến các món ăn phù hợp với trẻ không trùng với thực đơn của trường, Cách chăm sóc trẻ biếng ăn, trẻ béo phì, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bị bệnh, các thực phẩm xung khắc……

Hình ảnh: Tôi và giáo viên tuyên truyền với phụ huynh vào giờ đón trẻ lớp B1

– Phụ huynh hiểu được chế độ ăn, nghỉ ngơi hợp lý của trẻ.

– Nắm chắc được thực đơn của nhà trường, hiểu được chế độ dinh dưỡng đối với trẻ

– Phụ huynh phối hợp với giáo viên và cô nuôi hiệu quả để chăm sóc trẻ tốt hơn.

– Phụ huynh đã tham gia các biện pháp chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi tại gia đình.

Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên chất lượng nuôi dưỡng của nhà trường đạt được nhiều kết quả tốt.

– 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không có trường hợp nào bị dịch bệnh. Trẻ khỏe mạnh, tăng cân đều, trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất.

– Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 13.4 % xuống còn 2 %.

– Tỷ lệ thấp còi giảm từ 12 % xuống còn 6 %.

– Việc chế biến món ăn được cải tiến thường xuyên, khoa học. Món ăn dễ chế biến, đảm bảo đủ chất, đủ lượng, thực đơn phong phú và được thay đổi thường xuyên hợp khẩu vị với trẻ.

– Đội ngũ giáo viên, cô nuôi vững vàng trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

– Tôi đạt giải nhất trong hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Huyện.

– Tạo mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên – cô nuôi, cô nuôi – trẻ, cô nuôi – phụ huynh.

– Bản thân tôi đã học hỏi nhiều kiến thức về chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như chế biến món ăn cho trẻ.

– Đảm bảo mức tiền ăn của trẻ : 17.000đ/trẻ/ngày. Khẩu phần ăn đảm bảo lượng calo, đủ lượng, đủ chất, thực đơn phong phú hợp với khẩu vị ăn của trẻ. Đến tháng 3: tỷ lệ calo nhà trẻ đạt 630 Kcal/ngày, Mẫu giáo tỷ lệ calo đạt 623 Kcal/ngày, lượng canxi nhà trẻ: 232 mg; mẫu giáo: 249mg; lượng B1 bình quân nhà trẻ đạt: 0,47 mg; Mẫu giáo đạt: 0,47mg.

Tỷ lệ P- L- G đạt: (14 – 16%); (24 – 26%); (60 – 62%).

– Trường không xảy ra tình trạng bệnh dịch, ngộ độc thực phẩm trong nhà trường. Bếp được xếp loại tốt và được cấp giấy chứng nhận “Bếp đủ tiêu chuẩn vệ sinh ATTP”. 100% các chủ hàng có Giấy chứng nhận VSATTP. Được đoàn kiểm tra liên ngành của Trung tâm y tế – Giáo dục kiểm tra xếp loại tốt 61/62 điểm. Trong nhiều năm trường luôn được chọn làm điểm của y tế Huyện về công tác y tế học đường.

– Tôi đã tích cực tham gia học tập kiến thức và có thêm kiến thức về dinh dưỡng với sức khỏe mầm non.

Việc áp dụng một số biện pháp trên tôi đã làm tốt việc chăm sóc và chế biến món ăn cho trẻ có nhiều trẻ thích ăn, trẻ ăn ngon miệng, hết suất. Qua mỗi kỳ cân đo của trẻ trên lớp thì thấy số trẻ suy dinh dưỡng cũng đã giảm dần.

Trong quá trình thực hiện tôi đã rút ra một số kinh nghiệm như sau:

+ Là một cô nuôi trong trường mầm non phải thường xuyên học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi những món ăn mới, thay đổi cách chế biến hợp với khẩu vị của trẻ.

+ Giáo viên – nhân viên, cô nuôi trong trường cần ham học hỏi trau dồi kiến thức, biết vận dụng vào công việc của mình, đồng thời các cô cần linh hoạt và sáng tạo chế biến ra nhiều món ăn mới là để thu hút sự hứng thú của trẻ, làm cho trẻ có hứng thú đến trường.

+ Cần có sự phối kết hợp với các giáo viên trên lớp, tham gia giờ ăn của trẻ để rút ra kinh nghiệm kịp thời.

+ Biết phối hợp, trao đổi với các cô trên lớp, với phụ huynh để hiểu hơn tâm lý của trẻ, từ đó, có thể chế biến ra các món ăn phù hợp với mọi lứa tuổi.

Để nâng cao chất lượng chăm sóc – nuôi dưỡng trong chế biến thức ăn cho trẻ tại các trường mầm non nói chung và trường mầm non B xã Đông Mỹ nói riêng tôi xin có một số khuyến nghị như sau:

+ Tôi mong PGD&ĐT bồi dưỡng thêm về chuyên môn cho các cô nuôi thường xuyên hơn nữa để các cô có thêm nhiều kinh nghiệm hơn vận dụng vào công việc.

+ Nên tổ chức nhiều hơn các buổi kiến tập về công tác chăm sóc – nuôi dưỡng, tập luyện về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết, không sao chép nội dung của người khác

Chú ý: Đây là bản xem thử online, xin hãy chọn download miễn phí bên dưới để xem bản đẹp dạng doc