Xem Nhiều 1/2023 #️ Lính Đại Hàn Trong Chiến Tranh Tại Việt Nam # Top 1 Trend | X-bikeman.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lính Đại Hàn Trong Chiến Tranh Tại Việt Nam # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lính Đại Hàn Trong Chiến Tranh Tại Việt Nam mới nhất trên website X-bikeman.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong chiến tranh Việt Nam, lính Đại Hàn là hung thần với người dân Việt Nam vô tội từ Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam…

Chỉ cần một lính Hàn bị giết, lính Hàn sẽ đem cả làng bị nghi ngờ ra xử bắn. Xả súng, ném lựu đạn thảm sát hàng loạt, hãm hiếp phụ nữ đến chết, xé đôi trẻ con… những gì đen tối nhất của thảm sát, của chiến tranh đều có thể tìm thấy ở những nơi lính Hàn càn quét, giết chóc.

Đã có ít nhất 43 vụ thảm sát đẫm máu do binh lính Hàn Quố c thực hiện tại Việt Nam được ghi nhận.

Có những làng mà sau một trận càn của lính Hàn hoàn toàn bị xóa sổ. Thân nhân của người chết ba ngày sau trở lại làng chỉ thấy vắng lặng, tan hoang, xác người nồng nặc tử khí, lũ chó gặp xác người chạy đi.

Có những phụ nữ mang thai bị găm trên mình loang lổ mảnh lựu đạn lính Hàn, chịu đựng 10 tiếng đồng hồ, đến khi lính Hàn rút đi thì mẹ chết đứa con trong bụng cũng chết. Những đứa trẻ mất cha mẹ trong đợt càn của lính Hàn, bơ vơ không biết dựa vào đâu, chết vì đói và kiệt sức trong những ngày sau đó…

Lính Hàn Quốc hành hạ một người dân Việt Nam.

Vụ thảm sát Thái Bình

Vào một buổi sáng sớm của tháng 2/1966, một toán quân thuộc Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ của Hàn Quốc đã tiến vào làng Thái Bình (tỉnh Quảng Nam) trong một cuộc càn quét các du kích Giải phóng.

Tuy vậy, chúng chỉ tìm thấy trong ngôi làng 68 người, hầu hết là phụ nữ, người già và trẻ em. Những con người vô tội và không có khả năng kháng cự này đã trở thành đối tượng để “Mãnh Hổ” trút giận. Bằng hàng loạt phát súng và cả một quả lựu đạn, lính Hàn Quốc đã giết hại dã man 65 người.

Ba người may mắn sống sót trong vụ thảm sát sau đó đã trở thành nhân chứng tố cáo tội ác của Sự đoàn Mãnh Hổ. Để ghi nhớ sự kiện tang tóc này, một đài tưởng niệm khắc tên của 65 nạn nhân đã được dựng lên tại làng Thái Bình.

Vụ thảm sát Diên Niên – Phước Bình

Vào sáng ngày 9/10/1966, một trung đội lính Hàn Quốc thuộc Tiểu đoàn 3 – Lữ đoàn Rồng Xanh bắt đầu tập kích từ căn cứ đồi tranh Quang Thạnh (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) vào thôn Phước Bình. Sau đó, chúng đổ quân càn quét, lùng sục tất cả nhà dân và hầm chống phi pháo, cưỡng bức nhân dân xóm Bình Trung (thôn Phước Bình) tập trung về sân trường học của thôn.

Sau khi tập trung dân, chúng bắt đầu xả súng và ném lựu đạn vào nhóm dân thường. Vụ giết chóc này làm 68 người dân thôn vô tội ngã xuống, trong đó có 21 cụ già, 47 phụ nữ và trẻ em.

Ngày 13/10, quân “Rồng Xanh” tiếp tục càn quét và hại thêm 112 người dân vô tội ở thôn Diên Niên gần đó.

Tổng cộng, trong hai ngày 9/10 và 13/10/1966, lính Hàn Quốc đã tàn sát 280 phụ nữ và trẻ em ở hai thôn Diên Niên, Phước Bình. Ngày nay, di tích vụ thảm sát Diên Niên – Phước Bình đã được xếp hạng và cấp bằng di tích quốc gia.

Những đứa trẻ bơ vơ sau khi bố mẹ bị giết chết bởi lính Hàn.

Vụ thảm sát Bình Hòa

Ngày 3/12/1966, nhằm trả đũa các hoạt động du kích của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, lính Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc càn quét tại xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Trong vòng ba ngày, tại 5 địa điểm: buồng đất nhà ông Trắp, hố bom Truông Đình, Dốc Rừng, Đồng Chồi Giữa, đám ruộng giếng xóm Cầu, lính Hàn Quốc đã giết hại hàng trăm dân thường một cách dã man.

Cao điểm là vào chiều ngày 6/12, người dân đã bị cưỡng bức tập trung lại rồi bị lính Hàn Quốc đồng loạt xả đạn, khiến 267 người thiệt mạng.

Tổng cộng, trong thảm sát Bình Hoà, lính Hàn Quốc đã giết hại 430 người, trong đó có 269 phụ nữ (12 phụ nữ bị cưỡng hiếp đến chết), 104 người già, 174 trẻ em. 3 gia đình bị giết sạch không còn một ai.

Năm 1990, chính quyền và nhân dân địa phương đã xây dựng một tấm bia căm thù tại hố bom Truông Đình ghi lại tội ác này. Tháng 5/1991, di tích vụ thảm sát Bình Hòa được xếp hạng và cấp bằng di tích quốc gia.

Vụ thảm sát Bình An

Ngày 23/1/1966, quân Hàn Quốc bất ngờ tổ chức một cuộc tấn công vào Bình An (Nay là xã Tây Vinh – Huyện Tây Sơn – Tỉnh Bình Định). Chúng bao vây từ 4 phía với quyết tâm tiêu diệt toàn bộ lực lượng của ta, nhưng đã bị đánh trả quyết liệt.

Tức tối vì không đạt được mục đích, ngày 7/2/1966, các đơn vị lính Hàn Quốc bắt đầu tiến hành một chiến dịch tấn công tàn bạo bằng vũ khí hạng nặng. Từ sáng sớm, các đơn vị pháo binh của địch đều nã đạn cấp tập vào Bình An. Khi pháo ngừng, lính Hàn Quốc lập tức ập đến.

Chúng tìm kiếm các hầm trú ẩn của dân ven làng, thả lựu đạn cay bắt mọi người phải trồi lên rồi thả sức tàn sát. Ngay trong ngày đầu chiến dịch, 58 người dân đã bị giết hại.

Những ngày sau đó, cuộc giết chóc, đốt phá ngày càng mở rộng qui mô và sự dã man. Trong ngày 12/2, 109 người đã bị giết hại. Ngày 23/2, tại khu vườn nhà ông Trương Niên ở thôn An Vinh, lính Hàn đã dồn 90 người dân tới, dùng súng trung liên hạ sát toàn bộ.

26/2 là ngày đẫm máu nhất, khi lính Hàn Quốc dồn tất cả những người chúng bắt được ở các nơi về Gò Dài (thôn An Vinh). Chúng đã giết hại 380 người bằng những hành động man rợ như hãm hiếp rồi dùng lưỡi lê đâm vào cửa mình phụ nữ, chất rơm đốt lửa thiêu sống trẻ em…

Chiến dịch thảm sát của địch đã khiến trên 1.000 dân lành bị giết hại, trong đó phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em. Sự sống ở Bình An gần như bị hủy diệt hoàn toàn.

Vụ thảm sát Cây đa Dù

Sáng mùng 4 tháng Giêng năm Mậu Thân (12/2/1968), người dân các làng Phong Nhất, Phong Nhị ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã bị đánh thức bởi tiếng đạn pháo và súng máy. Sau đó, lính Hàn Quốc xuất hiện và áp giải rất nhiều phụ nữ, người già, trẻ em đến cây đa Dù ven quốc lộ 1A. Tất cả những người này sau đó đã bị hành quyết một cách dã man.

Theo các báo của của Mỹ, từ 70 – 80 người dân không có vũ khí đã thiệt mạng. Đơn vị gây ra tội ác chiến tranh này là Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến số 2 của Hàn Quốc.

Mâu thuẫn giữa Mỹ và Hàn Quốc đã xảy ra trong việc điều tra về vụ thảm sát. Phía Hàn Quốc đã ngụy biện rằng thủ phạm của vụ thảm sát là những “binh sĩ Việt Cộng mặc đồng phục lính Hàn Quốc”.

Tuy vậy, Đại tá Robert Morehead Cook, tổng thanh tra của Lục quân Hoa Kỳ đã bác bỏ luận điệu này và khẳng định chính các binh sĩ Hàn Quốc đã tiến hành vụ thảm sát.

Lính Hàn trong chiến tranh Việt Nam.

Vụ thảm sát Hà My

Tờ mờ sáng 26 tháng Giêng năm Mậu Thân (25/2/1968), nhằm cưỡng bức người dân vùng bám trụ vào ấp chiến lược, hai đại đội lính của Lữ đoàn Rồng Xanh đã kéo đến bao vây làng Hà My (xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Chúng gom người già, phụ nữ, trẻ em về xóm Tây ở ba điểm: Trước nhà ông Nguyễn Điểu (42 người); hầm nhà bà Lê Thị Thoại (16 người) và nhà ông Nguyễn Bính (74 người). Sau đó, chúng dùng súng tiểu liên, cối, lựu đạn, bắn và ném xối xả về phía người dân.

Man rợ hơn, sau khi tàn sát, chúng phóng hỏa đốt thiêu, thịt cháy khét, chỉ còn xương chất thành đống, chẳng ai còn gương mặt để nhận dạng.

Vụ thảm sát đã khiến 135 người bị sát hại, trong đó chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em.

Vụ thảm sát Duy Trinh

Sáng 14/8//1968, lính Hàn Quốc đóng tại Hòn Bằng, cách làng Duy Trinh (Quảng Nam) chừng 400 m bắt đầu càn vào làng. Vừa đi chúng vừa bắn. Phần lớn người ở lại là người già, trẻ con và phụ nữ chạy xuống hầm trú ẩn.

Quân địch phát hiện ra căn hầm nhà bà Thiệu tại xóm Mỹ An, liền ra lệnh mọi người ra khỏi nơi ẩn nấp, đứng xếp hàng trên miệng hầm. Một lát sau, chúng bắt tất cả trở lại hầm rồi bắt đầu cuộc giết chóc.

Rất lạnh lùng, lính Hàn Quốc thay nhau cứ bắn một phát lại ném một quả lựu đạn xuống hầm. Có tất thảy 14 người toàn bà già, phụ nữ, trẻ em vô tội bị sát hại thảm thương. Tất cả đều vùi trong căn hầm mà sau này trở thành ngôi mộ chung của họ.

Toán lính Hàn Quốc tiếp tục kéo qua xóm Vĩnh An cách đó chỉ chừng trăm mét. Vẫn hành vi man rợ như cũ, chúng lùa mọi người xuống hầm, lạnh lùng bắn một phát súng lại ném một quả lựu đạn. 18 thường dân vô tội khác đã thiệt mạng.

Tổng cộng, 32 đồng bào đã bị giặc giết trong vụ thảm sát ở làng Duy Trinh.

Tất cả tội ác của lính Hàn gây ra cho người dân Việt Nam, chúng ta cần phải nhớ, không phải kích động lòng thù hằn. Nhưng những gì là sự thật lịch sử thì nó là sự thật lịch sử.

Và trở lại câu hỏi: Chúng ta ứng xử với lịch sử dân tộc như thế nào?

Nguồn: http://petrotimes.vn/xin-hay-doc-truoc-khi-phat-cuong-hau-due-mat-troi-401781.html

Khẩu Phần Ăn Của Lính Mỹ Trong Chiến Tranh Việt Nam

Bộ quốc phòng Mỹ rất chú trọng khẩu phần ăn của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và được đặt hàng tại một số công ty thực phẩm lớn như HJ Heinz, Patten Food Products, The Cracker Jack Company

Khẩu phần ăn của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được ký hiệu là MCI (viết tắt của Meal Combat individual – Bữa ăn chiến đấu cá nhân). Trong các cuộc hành quân dài ngày được cung cấp chủ yếu là lương thực đóng hộp, có thể để được trong một thời gian dài và được chia thành nhiều loại. Loại phổ biến nhất khi đó là loại B- dòng khẩu phần được sản xuất và dự trữ mà không dùng các thiết bị lạnh, loại này cũng được chia thành 3 loại theo các bữa: bữa sáng, bữa trưa và bữa tối. Mỗi bữa, thức ăn lại có thể thay đổi được.

MCI thay thế cho khẩu phần ăn loại C được sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2, tuy vậy nó vẫn bị gọi với tên cũ do có cách đóng gói gần như giống hệt chỉ khác về trọng lượng. MCI được xem như một bước cải tiến khá khiêm tốn so với khẩu phần ăn loại C vốn bị chỉ trích là quá cồng kềnh đối với binh lính trên chiến trường.

4 khẩu phần ăn phổ biến nhất là A,B,C và K. Mỗi loại có mục đích và tính chất như sau:

-Khẩu phần ăn loại A (Thường): Cung cấp cho binh sĩ tại các bếp ăn dã chiến của đơn vị. Nguồn thức ăn lấy hoàn toàn từ vùng địa phương nên ở mỗi chiến trường khác nhau thì người ta lại ăn một kiểu khác nhau.

-Khẩu phần ăn loại B (Dự phòng): Được chế biến tại bếp ăn dã chiến và sau đó chuyển ra mặt trận. Nó bao gồm 70 g bánh quy, 28 g bánh kẹo, 14 g đường và 7 g cà phê.

-Khẩu phần ăn loại C (Tại chỗ): Phát cho mọi binh sĩ trước khi ra trận. Nó bao gồm 3 hộp “5 trong 1” dùng cho 3 bữa trong ngày. Thành phần của mỗi hộp bao gồm:

+Hộp điểm tâm : Một gói bánh quy, 1 thanh sô-cô-la, 1 gói trà chanh, thịt gà đóng hộp và 1 thanh kẹo cao su.

+Hộp ăn trưa : Một gói bánh quy, 4 viên đường, thịt bò đóng hộp, bánh hoa quả và một gói cà phê.

+Hộp ăn tối: Một gói bánh quy, thịt gà đóng hộp, kẹo ca-ra-men, súp và 4 điếu thuốc lá:

– Khẩu phần ăn loại K (Bổ sung): Cung cấp cho các đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt như lính dù, trinh sát và đặc nhiệm. Nó bao gồm 1 hộp phô mai, 4 viên đường, 1 gói cà phê, 1 thanh kẹo cao su và 1 gói trà chanh.

Bữa sáng điểm tâm được chứa trong một gói nhỏ, thường là mì hay bánh mì, cũng có khi là thịt. Mỗi bữa ăn chứa khoảng 1.200cal . Ngoài đồ ăn chính trong một túi riêng lớn nhất thường có thịt (thịt bò, thịt lợn, thịt gà…), cá, trứng, đậu, khoai tây… Kèm theo đó là những gói nhỏ chứa muối, đường, bột sô-cô-la, cà phê, thuốc lá (cũng có rất nhiều loại), nĩa, thìa. Tất cả được cho vào một cái túi riêng. Bên cạnh đó, họ còn có thể ăn bánh khô, lương khô mang theo.

Mỗi khẩu phần ăn của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được chế biến khá phong phú về chủng loại bao gồm: thịt, cá, trứng, sữa, chocolate, bột cacao, bánh quy, các loại đậu… Ngoài ra, còn có các vật dụng đi kèm như đường, cafe hòa tan, muối, tiêu, thuốc lá, kem không sữa, kẹo cao su, giấy vệ sinh, giấy chống ẩm.

Thuốc lá được sử dụng gồm hiệu Pall Mall, Winston, Benson and Hedges . Từ năm 1972, thuốc lá không còn được cấp. Lính Mỹ thường lười đốt lửa mà thường dùng chất nổ C-4 là chất dễ cháy để đốt lửa cho nhanh và không có khói để hâm nóng thức ăn

Thức ăn của lính Mỹ được vận chuyển đến Việt Nam chủ yếu bằng đường hàng không và lưu trữ tại các kho lớn ở Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, sau đó sẽ được chuyển đến căn cứ của các đơn vị chiến đấu. Những đơn vị chiến đấu đồn trú ở khu vực xa xôi hoặc các đơn vị tiền tiêu sẽ được cung cấp thực phẩm và đạn dược bằng trực thăng.

MCI được đóng gói trong những thùng carton, mỗi thùng carton lớn chứa 12 thùng carton nhỏ, mỗi thùng carton nhỏ tương ứng với một bữa ăn dành cho 1 binh sĩ. Bên ngoài mỗi thùng carton lớn đều có in dòng chữ “Meal Combat Individual C”, trên mỗi thùng carton nhỏ bên trong có đánh dấu ký hiệu B-1, B-2, B-3 tương ứng với thực đơn bên trong.

Khẩu phần ăn của lính Mỹ được phát như nhau cho mọi binh lính và các sĩ quan Mỹ. Lúc đầu người ta phát từng loại riêng nhưng sau đó vì chiến trường luôn hỗn loạn nên người ta phát cho mỗi binh sĩ một thùng, bao gồm cả ba loại đó để họ tự chia. Tuy nhiên, việc tự chia này cũng không mất công lắm. Thường thì bất cứ khi nào một binh sĩ đói, anh ta sẽ khui một hộp ra và thưởng thức ngay tại chỗ nào cảm thấy toàn nhất.

Khẩu phần ăn của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được đặt trong mỗi thùng nhỏ được đóng gói như sau: Phía trên cùng là 1 bao đựng bánh mì, tiếp đó là 2 lon nhỏ và 1 lon lớn chứa thực phẩm đã được chế biến sẵn theo thực đơn quy định ở bên ngoài. Phụ kiện đi kèm gồm một chiếc muỗng và không thể thiếu “vật bất ly thân” là dụng cụ mở lon P-38.

Bên cạnh đó, có một loại lương thực tiện dụng nữa là cơm gạo sấy. Tùy vào lượng nước đổ vào là nóng hay lạnh mà chúng sẽ trở thành cơm nóng hay cơm nguội. Loại thức ăn này cũng khá là tiện dụng và phổ biến, ăn tuy không ngon được như cơm nấu nhưng lại đỡ chán hơn đồ hộp nhiều.

Mặc dù được chế biến khá phong phú từ nhiều loại thực phẩm khác nhau song MCI vẫn bị lính Mỹ phàn nàn là quá nhàm chán. Một cựu binh Mỹ tại Việt Nam từng phát biểu rằng “Nó (MCI) – Có vẻ như quân đội có cùng một triết lý như mẹ của tôi, rằng “con sẽ ăn tất cả những gì mẹ nấu”, sự khác biệt lớn ở đây là mẹ tôi không bao giờ cố định bất cứ một điều gì cả”. Các lính Mỹ tại chiến trường Việt Nam còn phàn nàn rằng họ lúc nào cũng phải ăn những thức ăn nguội lạnh, một dạng phàn nàn đặc trưng kiểu “được voi đòi tiên”.

Khẩu phần C của lính Mỹ với 3 bữa ăn nặng 2,724 kg và bao gồm 12 loại thực phẩm. Nặng gấp đôi so với khẩu phẩn “One Man” của lính Úc chỉ nặng 1.362Kg bao gồm 5 loại thực phẩm. Đây là sự bất tiện và quá cồng kềnh và nặng nề

Đến năm 1966, binh lính làm nhiệm vụ trinh sát hoặc tuần tra dài ngày tại Việt Nam như các đơn vị chiến đấu đặc biệt SEAL, Ranger được cung cấp một loại thực phẩm chế biến sẵn mới là LRP hoặc Lurpfood, được đóng gói trong các túi nilon tráng bạc giúp giảm trọng lượng và sự cồng kềnh so với khẩu phần ăn MCI. LRP chính là tiền đề tạo ra khẩu phần ăn MRE mà về sau được dùng để thay thế hoàn toàn cho khẩu phần ăn MCI vào năm 1980.

Quân đội Mỹ luôn quan tâm một cách đặc biệt đến việc cải tiến khẩu phần ăn của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Họ xem việc đảm bảo cung cấp thực phẩm cho binh lính là một trong những nguồn động viên tinh thần chiến đấu. Rất nhiều chuyên gia thực phẩm nổi tiếng đã được mời làm việc cho Lầu Năm Góc để cải tiến các khẩu phần ăn chế biến sẵn và được sản xuất tại Mỹ bởi một số công ty thực phẩm lớn như HJ Heinz, Patten Food Products, The Cracker Jack Company, nó được đặt hàng riêng để cung cấp cho Bộ Quốc Phòng Mỹ và không được phép bán ra ngoài thị trường khi chưa nhận được sự đồng ý của Lầu Năm Góc.

Làm Visa Cho Người Hàn Quốc Tại Việt Nam

Với văn hóa ẩm thực đặc sắc cùng hàng loạt di sản trên khắp cả nước, Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách từ “xứ sở kim chi”. Cũng vì thế, visa Việt Nam ngày càng được công dân Hàn Quốc quan tâm. Trong bài viết sau đây, Vietnam Booking sẽ cung cấp cho bạn những thông tin chi tiết nhất về cách làm visa cho người Hàn Quốc tại Việt Nam chi tiết và nhanh chóng.

Theo Nghị quyết số 54/NQ-CP, Hàn Quốc nằm trong 46 quốc gia được miễn thị thực nhập cảnh vào Việt Nam. Tuy nhiên, công dân Hàn Quốc chỉ được lưu trú tối đa 15 ngày và mỗi lần nhập cảnh phải cách nhau ít nhất 30 ngày.

Nếu muốn xin lưu trú với thời gian dài hơn tại Việt Nam, công dân “xứ sở kim chi” có thể lựa chọn 1 trong 3 cách sau:

Xin công văn nhập cảnh từ cục quản lý xuất nhập cảnh

Xin visa điện tử Việt Nam

Xin visa tại cơ quan lãnh sự Việt Nam ở Hàn Quốc

Để xin được công văn/ thư mời nhập cảnh từ Cục quản lý xuất nhập cảnh, bạn cần liên hệ với các công ty, tổ chức hoặc cá nhân mời, bảo lãnh tại Việt Nam.

Xin công văn nhập cảnh là hình thức phổ biến nhất giúp người Hàn Quốc dễ dàng nhập cảnh vào vào Việt Nam. (Ảnh: Internet)

♦ Hồ sơ pháp nhân của công ty/ tổ chức bảo lãnh: Đăng ký kinh doanh, Chứng nhận đầu tư, Chứng nhận đăng ký thuế; hoặc giấy tờ chứng thực việc thành lập của công ty/tổ chức

♦ Văn bản xin cấp visa cho người Hàn Quốc vào Việt Nam theo mẫu NA2.

♦ Giấy xác nhận ngày nhập cảnh Việt Nam.

♦ Bản sao hộ chiếu, có công chứng.

♦ Bản sao giấy đăng ký mẫu dấu và chữ ký của người có thẩm quyền của tổ chức theo mẫu NA16.

Cục quản lý xuất nhập cảnh tại Hà Nội: 44 Trần Phú, Phường Điện Bàn, Quận Ba Đình, Hà Nội

Cục quản lý xuất nhập cảnh tại TP HCM: 337 Nguyễn Trãi, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Hồ Chí Minh

Cục quản lý xuất nhập cảnh tại Đà Nẵng: 78 Lê Lợi, Thạch Thang, Hải Châu, Đà Nẵng

Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hàn Quốc: 123 Bukchon-ro, Jongno-gu, Seoul, Korea

Sân bay quốc tế của Việt Nam (sân bay Nội Bài, sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Đà Nẵng)

Thời gian xét duyệt hồ sơ xin công văn nhập cảnh Việt Nam thường kéo dài từ 5 – 7 ngày làm việc. Tuy nhiên, vào mùa cao điểm, thời điểm nhận kết quả xin công văn nhập cảnh có thể lâu hơn.

Đây là hình thức xin visa Việt Nam được sử dụng nhiều nhất bởi ưu điểm rằng visa được xin nhanh chóng, có thể xin trong trường hợp khẩn cấp và có tỉ lệ đỗ cao.

Visa điện tử Việt Nam cấp cho người Hàn Quốc có thể sử dụng duy nhất một lần và có thời hạn ít hơn 30 ngày. Hình thức này có ưu điểm là tiện lợi hơn vì chỉ cần nhập thông tin chi tiết, chính xác và chờ xét duyệt. Ngoài ra, lệ phí xin cấp visa điện tử cũng rẻ hơn do đã lược bớt một số công đoạn. Tuy nhiên, giao diện website vẫn còn khó sử dụng và chỉ áp dụng cho một vài loại visa.

Xin visa Việt Nam sẽ dễ hơn bao giờ hết khi bạn đăng ký dịch vụ làm visa uy tín. (Ảnh: Internet)

Để xin visa điện tử Việt Nam cho công dân mang quốc tịch Hàn Quốc, đầu tiên bạn hãy truy cập vào trang web xuất nhập cảnh theo địa chỉ: https://evisa.xuatnhapcanh.gov.vn/vi_VN/web/guest/trang-chu-ttdt, tiếp đến chọn mục “dành cho người nước ngoài đang ở nước ngoài trực tiếp đề nghị cấp visa điện tử”. Sau đó, quý khách tiến hành điền thông tin theo hướng dẫn, hoàn thành xong bạn sẽ được hệ thống cấp mã hồ sơ điện tử.

Cuối cùng, hãy thanh toán lệ phí xin visa Việt Nam online (khoảng 25 $) và theo dõi kết quả xin visa trên trang web thông qua mã hồ sơ điện tử được cấp ở trên. Nếu hồ sơ được xét duyệt, bạn in visa và mang theo khi cần thiết.

Ưu điểm của hình thức này là sự đảm bảo, chắc chắn có được visa trên hộ chiếu của mình. Tuy nhiên, nếu công dân Hàn không sống gần thủ đô Seoul, việc đi lại sẽ tốn khá nhiều thời gian, công sức và tiền bạc.

Làm visa Việt Nam là một trong những thế mạnh của Vietnam Booking. (Ảnh: Vietnam Booking)

Người Hàn Quốc muốn xin visa Việt Nam thường gặp phải sự bất đồng về ngôn ngữ khiến cho việc này gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, thời gian và tiền bạc chi trả cho việc đi lại cũng hết sức tốn kém. Vì vậy, để tránh khỏi những phiền hà đó, bạn hãy đăng ký dịch vụ làm visa Việt Nam cho người Hàn Quốc tại Vietnam Booking.

Vietnam Booking – dịch vụ làm visa Việt Nam trọn gói, uy tín luôn làm hài lòng khách hàng bằng những giải đáp, hướng dẫn tận tình, chi tiết. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua tổng đài toàn quốc hotline: 1900 3498 để được tư vấn, hỗ trợ xin visa Việt Nam nhanh nhất với chi phí cực kỳ tiết kiệm.

Ẩm Thực Trong Ca Dao Việt Nam

ẨM THỰC TRONG:

CA DAO VIỆT-NAM

Hoài Bảo Anh Thư

Nói đến ca dao là nói đến niềm tự hào của dân tộc mình.  Ca dao là văn chương dân gian dã dạng trải qua nhiều thế hệ lịch sử,  đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội lúc bấy giờ và lưu truyền cho đến ngày nay.  Ít có người biết đến được chính xác các tác giả, dù vậy ca dao đã là vũ khí chống lại những xăm nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại.  Ca dao Việt Nam là thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc.  Những câu ca dao tục ngữ, lời hò, hát dặm, bài vè thường đề cặp đến nhiều khía cạnh khác nhau như xả hội, gia đình, tính ngưỡng, tình yêu, thiên nhiên .v..v . . .  Ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, làm giàu thêm tiếng Mẹ Đẻ, chúng ta nên cố gắng và trang trọng gìn giữ.

Là một người phụ nữ Việt Nam, tôi luôn cố gắng để làm trọn bốn đức tính ‘Công Dung Ngôn Hạnh’ của một người con gái Việt Nam.  Bởi vậy, tôi đã xem việc nội trợ rất cần thiết, tôi rất ưa thích học hỏi nấu nướng những món ăn, thực đơn lạ.  Ca dao Việt Nam đã chứa đựng rất nhiều thú vị trong việc nội trợ qua các thực đơn mỗi miền.  

Bắt đầu từ miền Bắc, tha thiết với món thịt nấu đông cho ba ngày Tết, cũng như những món ăn mà ca dao  diễn tả như sau:

Ra đi anh nhớ quê nh

à

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng, dầm sương.

Nhớ ai tát nước bên đường đêm nao!

Và rồi mỗi vùng đều có các món riêng cố hữu:

Chàng đi nhớ cháo làng Ghề.

Nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Đông Viên.

Dưa La, ca Láng, nem Báng, tương Bần.

Cua Phụng Pháp, rau muống Hiên Ngang.

Hỡi cô thắt lưng bao xanh.

Có về

An

Phú với anh thì về

An

bề.

Phú có ruộng tứbề.

Có ao tắm mát, có nghề mạch nha.

Ca dao Việt Nam thường ghép những món ăn nổi tiếng với những người sành ăn, biết thưởng thức để không uổng công người đầu bếp cũng như đem tình người thêm gần nhau:

Bồng bồng mà nấu canh tôm.

Ăn vào mát ruột, đêm hôm lại bồng.

Sáng ngày bồ dục chấm chanh.

Trưa gỏi cá chấy, tối canh cá chầy.

Nhất trong là giếng làng Hồi.

Nhất báo, nhì bùi là cá rô râu.

Canh cải mà nấu với gừng,

Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê bai.

Khế xanh nấu với ốc nhồi,

Tuy nước nó xám nhưng mùi nó ngon.

Canh bầu nấu với cá tre.â

Ăn vô cho mát mà mê vợ già.

Tôi biết chắc rằng kho tàng ca dao Việt Nam rất bao la cũng như các món ăn,  làm sao kể cho hết . . . thôi thì ăn ít  mình sẽ thèm muốn thêm hoài hoài vậy. .

Bước vào miền Trung cổ kính, ca dao Việt Nam sẽ giúp chúng ta thưởng thức những món ăn của xứ  Cố Đô:

Yến sào Vĩnh Sơn.

Cua

gạch  Quảng

Khê

Sò nghêu Quan Hà

Rượu dâu Thuần Ly.ù

Những ân tình hình như bị bỏ quên mỗi khi nhắc đến món rượu dâu rừng có vị chua chua, ngọt ngọt của miền Trung.   Biết bao chàng trai đắm say men rượu thay men tình: 

Mang bầu đến quán rượu dâu.

Say sưa quên biết những câu ân tình.

Xứ Huế, đất Đế Đô, đất Thần Kinh không làm sao bỏ quên những câu ca dao bất hủ của các món như:

c  gạo

Thanh Hà

Thơm rượu Hà Trung.

Mắm ruốc Cửa Tùng.

Mắm nêm Chợ Sãi.

Các món ăn theo ca dao cùng nhau vượt núi, vượt đèo Hải Vân:

Nem chả Hòa Vang.

Bánh tổ Hội An.

lang

Trà Kiêu.

KhoaiTrà Kiêu.

Thơm rượu Tam Kỳ.

Với đồi núi cao ngất, biển cả mênh mông, ca dao Việt Nam lại mang những món hải sản để trao đổi với những rau trái:

Ai về nhắn với họ nguồn.

Mít non gửi xuống cá nguồn gửi lên.

Măng giang nấu với ngạch nguồn.

Đến đây nên phải bán buồn cho vui.

Cá nục nấu với dưa hường.

Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi.

Thương em vì cá trích vè.

Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.

Ca dao ngọt ngào hương vị khi về tới xứ Quảng, Qui Nhơn:

Kẹo gương Thu Xà

Mạch nha Thi Phổ.

Muốn ăn bánh ít lá gai

Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.

Ca dao qua các món sơn hào, hải vị khi bước vào Khánh Hòa:

Yến sào Hòn Nôi.

Vịt lội Ninh Hòa.

Tôm hùm Bình Ba.

Sò huyết

Cam

Ranh.

Nai khô Diên Khánh.

Thêm vào những món ăn của miền Trung qua ca dao Việt Nam còn có các món gỏi:

Chi ngon bằng gỏi cá nhồng.

Chi vui bằng được tin chồng vinh qui.

Trên non túc một hồi còi,

Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

Không đi thì sợ quan đòi.

Đi ra thì nhớ cá mòi nấu măng.

Đi ‘dzô’ tới miền Nam phì nhiêu, cò bay thẳng cánh, ca dao vẫn phong phú:

Biên Hòa có bưởi Thanh Trà

Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh.

Bánh tráng Mỹ Long, bánh phồng Sơn Đốc.

Ba phen quạ nói với diều.

lao

Ông chưởng có nhiều cá tôm.

CùÔng chưởng có nhiều cá tôm.

Tháng tư cơm gói ra Hòn.

Muốn ăn trứng Nhạn phải lòn hang Mai.

Ca dao không những qua thực đơn mà còn có những điệu hò ru con của các bà mẹ:

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng.

Về sông ăn cá về đồng ăn cua.

Ví bằng con cá nấu canh.

Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

Ca dao còn giúp những món rau cải được tăng thêm sư thèm muốn cho người dùng:

Mẹ mong gả thiếp về vườn.

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

Khoan khoan mổ một con gà

Bí đao xắt nhỏ, tiêu cà bỏ vô.

Cũng như các ông thường thèm chút rượu đi đôi với:

Đốt than nướng cá cho vàng.

Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

Món cá kho tiêu của miền Nam mà tôi học được, rất bình dân cũng lại là món mà tôi thích nhất.  Cứ mỗi lần nấu món này, tôi vẫn thường sợ hàng xóm ngửi mùi. (cái mùi rất đặc biệt đối với dân Việt mình nhưng không mấy thân thiện cho người Mỹ!!):

Bậu ra bậu lấy ông câu.

Bậu câu cá bống chặt đầu kho tiêu.

Kho tiêu, kho ớt, kho hành.

Kho ba lượng thịt để dành mà

ăn. . .

Sự dồi dào, phong phú của ca dao Việt Nam  qua các thực đơn đã giúp cho việc nội trợ của tôi thêm phần thích thú mỗi khi vô bếp.  Hy vọng rằng đã đem lại chút ít hứng thú cho người đọc và mong được bạn đọc chia xẻ những gì thiếu sót, cũng như ca dao Việt Nam qua những khía cạnh khác như đời sống, gia đình, tình yêu, thiên nhiên v… v

Hoài Bảo Anh Thư

Bạn đang xem bài viết Lính Đại Hàn Trong Chiến Tranh Tại Việt Nam trên website X-bikeman.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!