Xem Nhiều 2/2023 #️ Ẩm Thực Việt Nam Xưa Và Nay Nổi Tiếng Bốn Phương # Top 10 Trend | X-bikeman.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ẩm Thực Việt Nam Xưa Và Nay Nổi Tiếng Bốn Phương # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ẩm Thực Việt Nam Xưa Và Nay Nổi Tiếng Bốn Phương mới nhất trên website X-bikeman.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ẩm thực Việt Nam thời xưa

Việt Nam có đến 54 dân tộc anh em, chia làm 3 vùng miền Bắc Trung Nam. Nước ta có truyền thống làm nông nghiệp, lúa nước. Tới ngày nay thì truyền thống này vẫn còn phát huy và trở thành nét độc đáo trong văn hóa người Việt. Cũng bởi vậy mà nền ẩm thực truyền thống của chúng ta khá phong phú đến nỗi không thể kể hết được.

Ẩm thực Việt Nam thời xưa

Món ăn Việt được chú ý kỹ khi hòa quyện giữa các hương vị. Các nguyên liệu kết hợp vừa có âm vừa có dương (nóng-lạnh, sáng-tối).

Đặc tính tập thể, cộng đồng cũng được thể hiện trong nền ẩm thực xưa. Bàn ăn sẽ sử dụng bát ăn cơm riêng, các món ăn và đồ chấm thường bày chung một dĩa. Như vậy để tăng thêm sự gắn kết, đặc biệt là trong bữa ăn gia đình.

Ẩm thực truyền thống nổi bật lên đó là các món ăn thuần Việt. Đó là những món ăn do người Việt nghĩ ra, chế biến mà dường như không một quốc gia nào có. Sự phong phú về nguyên liệu, thực phẩm, gia vị góp phần tạo nên các món ăn thơm ngon, hấp dẫn nhất. Có thể kế đến như phở, bún, xôi, bánh xèo, mắm cá, cốm, …

Ẩm thực Việt Nam thời nay

Duy trì được văn hóa ẩm thực truyền thống là điều đáng khen ngợi. Ngày nay, sự phát triển ngày càng cao, đất nước mở cửa giao lưu với thế giới về mọi mặt. Ẩm thực Việt Nam có cơ hội đi ra thế giới, được nhiều người biết đến hơn. Không chỉ vậy, người Việt còn khéo léo khi kết hợp với văn hóa ẩm thực nước bạn vào trong món ăn của mình. Từ đó làm phong phú hơn các món ăn người Việt. Biến tấu thành món ăn thuần Việt mà vẫn xen kẽ được hương vị hiện đại.

Ngoài gia vị truyền thống, hiện nay, khi chế biến món ăn, người ta còn kết hợp thêm các gia vị từ các nước khác nữa. Vì vậy mà khả năng biến tấu, tạo ra hương vị mới trên nền món ăn cũ khá là đa dạng.

Giao thoa văn hóa ẩm thực Việt Nam xưa và nay

Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp các món ăn, nguyên liệu, cách chế biến, cách ăn uống đặc trưng của mỗi vùng miền. Đặc điểm này là độc đáo mà bạn sẽ không thể nhầm lẫn với nền ẩm thực nào khác trên thế giới.

Ẩm thực xưa và nay đều giữ vững nét đẹp truyền thống của ông cha, kết hợp với xu thế mới cũng như sàng lọc tinh hoa văn hóa ẩm thực thế giới. Theo thời gian, nền ẩm thực người Việt lại càng thêm phong phú và đa dạng. Bởi vì sự đa dạng ấy mà Việt Nam được bình chọn là “thiên đường ẩm thực” đáng được khám phá nhất.

Ẩm Thực Việt Xưa Và Nay: Hấp Dẫn Và Nổi Danh Bốn Phương

Từ xa xưa, những món ăn đặc trưng của Việt Nam đã luôn mang phong vị riêng. Chúng được làm đơn giản nhưng vô cùng độc đáo, ít mỡ, không dùng nhiều thịt mà thay vào đó là các nguyên liệu sẵn có như rau, củ, quả và ăn cùng cơm trắng. Phương pháp chế biến cũng đa dạng từ hấp, luộc, hầm, kho đến tái sống… để giữ hương vị thanh đạm thuần tuý.

Không chỉ vậy, triết lý âm dương trong Ẩm thực Việt Nam cũng vận dụng hoàn hảo cả trong nêm nếm và phối hợp nguyên liệu, do đó nhiều món ăn còn trở thành bài thuốc trị bệnh hiệu quả. Đặc biệt, một bữa ăn mang tinh thần Việt không thể thiếu nước mắm để chấm, đây là loại gia vị được “sáng tạo” nhiều nhất với các phiên bản khác nhau cho đúng với từng món ăn, mang lại hương vị phù hợp.

Nét độc đáo trong văn hóa ăn uống của người Việt

Trong ẩm thực Việt, để thưởng thức trọn vẹn một món ăn, cần sử dụng tất cả 4 giác quan. Trước tiên là thính giác, âm thanh “rôm rốp” giòn tan từ món cơm cháy quê nhà hay tiếng “xèo xèo” khi xào rau sẽ tạo sự kích thích trước khi dùng bữa. Tiếp đến là khứu giác, mùi thơm của món ăn dậy lên rồi lan toả trong không khí. Sau đó, thị giác, món ăn phải trình bày đẹp mắt, giữ được màu sắc đặc trưng của nguyên liệu. Và cuối cùng, người ăn dùng lưỡi – vị giác để cảm nhận hương vị.

Ẩm thực Việt Nam cũng thể hiện tính cộng đồng tương đối rõ ràng. Dù là trong gia đình, hay trên bàn tiệc ngoài xã hội, người Việt đều yêu thích không khí quây quần, đầm ấm nên thường dọn tất cả món ăn lên mâm rồi chia nhau thưởng thức. Tuy nhiên, cũng có một số “luật bất thành văn” trong bữa ăn mà ông bà đã dạy từ xưa như “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” hay “ăn phải nhai, nói phải nghĩ”…

Sự khác biệt của văn hóa 3 miền đã giúp tổng thể “bức tranh” Ẩm thực Việt trở nên đa dạng hơn:

Đặc trưng Ẩm thực miền Bắc

Món ăn miền Bắc thanh đạm, không quá mặn nhưng lại có màu sắc khá sặc sỡ, không đậm vị cay, béo, ngọt, chủ yếu sử dụng nước mắm hơi loãng hoặc mắm tôm. Hà Nội được xem như tinh hoa ẩm thực của miền Bắc với nhiều món ăn ngon như phở, bún chả, bún ốc, miến lươn, cốm làng Vòng… và gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rau húng Láng.

Đặc trưng Ẩm thực miền Trung

Về miền Trung, tính đặc sắc của Ẩm thực thể hiện qua hương vị riêng biệt, nhiều món ăn đậm đà và cay nồng hơn so với miền Bắc hay miền Nam. Màu sắc cũng được pha trộn khá phong phú, rực rỡ, thiên về đỏ và nâu sậm. Các tỉnh miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua, các loại mắm ruốc cùng bánh kẹo. Mặt khác, Ẩm thực cung đình Huế được xem là đại diện tiêu biểu ở miền Trung với phong cách đặc biệt. Món ăn không chỉ có vị rất cay, nhiều màu sắc mà còn chú trọng vào số lượng đa dạng cùng sự cầu kỳ trong cách bày trí.

Đặc trưng Ẩm thực miền Nam

Do chịu nhiều ảnh hưởng từ ẩm thực Trung Hoa, Campuchia, Thái Lan nên các món ăn của người miền Nam thường ngọt và cay, phổ biến với nhiều loại mắm như: Mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía… Miền Nam có nhiều món ăn dân dã, đặc thù như: Chuột đồng khìa nước dừa, dơi quạ hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, vọp chong, cá lóc nướng trui…

Đặc trưng Ẩm thực các dân tộc

Ẩm thực mỗi dân tộc thiểu số đều mang bản sắc rất riêng biệt, nổi tiếng với những món ăn độc đáo như: Bánh coóng phù của người Tày, lợn sữa, vịt quay lá mắc mật hay khâu nhục Lạng Sơn, cháo nhộng ong, phở cốn sủi, thắng cố, món xôi nếp nương của dân tộc Thái…

Văn Hóa Ẩm Thực Hà Nội Xưa Và Nay (Phần 4)

Đây là một vấn đề lịch sử mà ít người quan tâm nghiên cứu. Đấy cũng là một khiếm khuyết trong nghiên cứu lịch sử của nước nhà. Chúng ta đã quá tập trung vào tìm hiểu lịch sử chiến tranh, lịch sử dựng nước và giữ nước mà chưa dành một tỷ lệ xứng đáng cho nghiên cứu lịch sử văn hóa, trong đó có lịch sử văn hóa ẩm thực. Khi hiểu rõ những nguyên nhân thăng trầm trong lịch sử văn hóa ẩm thực Hà Nội, chúng ta mới có giải pháp để gìn giữ và phát triển văn hóa ẩm thực của Thủ đô ta.

Tuy nhiên, qua sử sách để lại và một số thần phả và văn tự còn ghi chép lại cũng như những tục tế lễ tổ nghề thì ở Hà Nội xưa cũng đó xuất hiện những tổ nghề như nghề làm bún ở Phú Đô, nghề làm đậu phụ ở Mai Động, nghề làm cốm ở làng Vòng…

Chúng tôi chưa có điều kiện và vì sinh sau đẻ muộn nên không thể tìm hiểu cặn kẽ về ẩm thực Hà Nội từ những ngày đầu của thế kỉ XIX, tuy nhiên, có thể qua thực tế lịch sử Hà Nội mà phân chia lịch sử ẩm thực gắn liền với những thăng trầm của Hà Nội trong thời cận hiện đại ở một vài mốc sau:

Trước 1945: Đây là thời kì ẩm thực Hà Nội có những bước phát triển theo chiều sâu vì quá trình đô thị hóa được hình thành mạnh mẽ với thể thức cai trị theo kiểu tư bản thực dân của thực dân Pháp. Trong thời kì này, tầng lớp thị dân Việt Nam được phát triển và ở Hà Nội đó hình thành một trường phái ẩm thực đặc biệt mang phong cách ẩm thực đậm nét Hà Nội.

Vào những năm thời kỳ Pháp thuộc, ở số 14 Hàng Sơn có một gia đình họ Đoàn sinh sống, họ thường lấy nhà mình làm nơi cưu mang nghĩa quân Đề Thám. Chủ nhà hay làm một món chả cá rất ngon đãi khách, lâu dần thành quen, những vị khách ấy đã giúp gia đình mở một quán chuyên bán món ăn ấy, vừa để nuôi sống gia đình, vừa làm nơi tụ họp. Lâu dần, hai tiếng ‘Chả Cá’ được gọi thành tên phố. Trong nhà hàng luôn bày một ông Lã Vọng – Khương Tử Nha ngồi bó gối câu cá – biểu tượng của người tài giỏi nhưng đang phải đợi thời. Vì thế khách ăn quen gọi là Chả cá Lã Vọng, ngày nay trở thành tên nhà hàng và cũng là của món ăn. Bí quyết làm chả cá chỉ truyền lại cho người con cả họ Đoàn (theo Wikipedia)

Theo tôi, như vậy, chả cá là một trong những sáng tạo thực sự của Hà Nội có lí lịch thật rõ ràng, không ai phải tranh luận. Món chả cá Lã vọng Hà Nội nay đó được nhiều nhà nghiên cứu ẩm thực liệt vào những món ăn hàng đầu của nhân loại. Thậm chí, có người còn coi là một trong mười món ăn mà loài người nên nếm thử trong cuộc đời, tựa như dân ta có câu “sống ở trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không?” vậy.

Cũng trong giai đoạn này, nhiều đồ ăn, thức uống Hà Nội được hình thành và nâng lên tới đỉnh cao như phở Hà Nội, nem rán Hà Nội, bún chả Hà Nội, bánh cuốn Hà Nội, bánh cốm Hà Nội… và nhiều món ăn khác mà ta cần truy cứu và sưu tầm.

Thời kì kháng chiến chống Pháp 1946-1954:

Vào giai đoạn này, một bộ phận lớn cư dân Hà Nội đó rời Thủ đô tỏa đi các vùng từ Việt Bắc đến khu III, khu IV, Nam Bộ… để tham gia kháng chiến. Những lớp người Hà Nội gốc này đó đem theo cả một kinh nghiệm sống của dân đô thị và cả kỹ năng ẩm thực tỏa về mọi miền. Nhiều món ăn Hà Nội vì thế có cơ hội lan tỏa ra vùng kháng chiến, vùng tự do. Ngược lại, người Hà Nội kháng chiến, người Hà Nội tản cư cũng có cơ hội học hỏi thêm được nhiều món ăn đặc sắc từ các vùng miền của tổ quốc. Tuy vậy, trong điều kiện chiến tranh trường kì và gian khổ, đại đa số người Hà Nội kháng chiến phải sống cảnh cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và thực hiện chủ trương ba cùng “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với tầng lớp bà con nghèo khổ, bần cùng nhất trong xã hội, mọi biểu hiện “hưởng thụ” kiểu thị dân đều bị lên án. Bởi thế, lớp người Hà Nội kháng chiến này không có cơ hội và khả năng để gìn giữ những di sản ẩm thực vốn đã tích lũy được.

Cũng trong giai đoạn này, có một bộ phận cư dân Hà Nội sống trong Hà Nội tạm chiếm. Những cư dân thuộc tầng lớp trung lưu cũ và mới này có điều kiện thuận lợi về kinh tế và vật chất để duy trì lối ăn uống vốn có từ trước năm 1945 ở Hà Nội và lối sống đô thị vùng tạm chiếm cũng đó làm cho một số giá trị văn hóa ẩm thực được giữ gìn và phát triển, tiếp thu thêm được các giá trị của bên ngoài.

Giai đoạn từ 1954 đến 1975:

Sau hiệp định Giơ ne vơ, Hà Nội được giải phóng, nước nhà tạm thời bị chia cắt. Người Hà Nội gốc đi kháng chiến trở về Hà Nội. Người Hà Nội mới từ các vùng miền khác cũng tham gia vào thành phần cư dân Hà Nội. Một bộ phận cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết được đưa từ miền Nam ra. Những lớp người này đó mang về Hà Nội một sức sống chính trị, văn hóa mới và cả những tập quán ăn uống mới.

Cũng trong thời kì đó, một bộ phận cư dân Hà Nội gốc đó di cư vào Nam hoặc ra nước ngoài. Nhóm cư dân này cũng đem theo những di sản ẩm thực của Hà Nội trước năm 1954 và lưu truyền nó ở miền Nam hay những vùng miền khác.

Do điều kiện kinh tế xã hội trong thời kì sau chiến tranh và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc nên dân cư Hà Nội trong những ngày này phải sống trong điều kiện “thắt lưng buộc bụng” và “giành tất cả cho tiền tuyến chống Mỹ”. Thời kì cơm không đủ ăn với mọi nhà, nên hầu như việc ăn của người Hà Nội chỉ dừng lại ở chỗ cố gắng có đủ lương thực để mà sống để sản xuất và chiến đấu. Mọi ăn uống thông thường vốn có từ xưa như chế biến bún, bánh, các loại quà đặc sản Hà Nội đều bị cấm đoán hoặc hạn chế. Nghệ thuật ẩm thực bị kìm hãm không có đất phát triển, nhiều giá trị di sản văn hóa ẩm thực bị mai một.

Giai đoạn từ 1975-1986:

Đây là thời kì cả nước sống trong chế độ bao cấp. Văn hóa ẩm thực chẳng những của Hà Nội mà hầu như của cả nước bị đe dọa nghiêm trọng.

Ăn uống hàng ngày, thậm chí “no ba ngày tết” mà với dân cán bộ, thành phần cốt cán của cư dân đô thị Hà Nội tiêu chuẩn chỉ có thế thì làm sao mà cái văn hóa ẩm thực Hà Nội có thể bảo tồn và phát triển được?

Người ta chia ra các loại bìa mua hàng: hộ độc thân, hộ bốn người và hộ trên bốn người… Ngày Quốc Khánh (2/9) hàng năm mỗi bìa mua hàng được mua bánh kẹo, thuốc lá Tam Đảo, chè gói Ba Đình. Ngày tết Trung thu mỗi bìa được mua bánh dẻo, bánh nướng. Ngày tết Nguyên Đán thường mỗi bìa được mua một túi hàng tết gồm: bóng, miến, mỳ chính, hạt tiêu, chè Ba Đình, thuốc lá Điện Biên, rượu chanh hoặc cam và một hộp mứt, vài gói kẹo… (Theo Vũ Ngọc Tiến)

Từ 1986 tới nay:sau đổi mới, đời sống kinh tế đó dần dần được cải thiện và nâng cao. Đặc biệt sau khi gia nhập WTO với cơ chế thị trường, ẩm thực Hà Nội tại chính Thủ đô và trong đời sống của người Hà Nội ở các vùng miền khác trong cả nước dần dần được phục hồi. Nhiều giá trị mới đó được phát triển.

Nhắc lại những cái mốc lịch sử khô khan và đau buồn cho sự tồn vong của nghệ thuật ẩm thực nước nhà mà tiêu biểu là nghệ thuật ẩm thực Hà Nội đằng đẵng suốt hơn nửa thế kỷ qua để thấy rằng do hoàn cảnh kinh tế, chính trị mà văn hóa ẩm thực của người Hà Nội tại chính Thủ đô Hà Nội đó bị khủng hoảng và tàn lụi một cách thê thảm.

Nay việc phục hồi và phát triển nghệ thuật ẩm thực sao cho nó trở lại với thời huy hoàng của một Thủ đô giàu mạnh và phát triển của cả đất nước quả là một công việc nặng nề và đầy khó khăn.

Để phục hồi và phát triển nền văn hóa ẩm thực rực rỡ của Thủ đô ta trong thời điểm Thăng Long nghìn năm tuổi này, không còn con đường nào khác là cần tăng cường khơi dậy những giá trị đó bị mai một trong quá khứ. Hội tụ trở lại các giá trị văn hóa ẩm thực của người Hà Nội đang ở Hà Nội, người Hà Nội và không phải Hà Nội sống khắp mọi miền cùng chung tay vun đắp để sao cho “cây khô cây lại đâm chồi nở hoa” cho xứng với cái giá trị nghìn năm văn hiến của thời đại chúng ta.

Amthuc365.vn Nguồn: Trung tâm đào tạo nấu ăn Quả Táo Vàng

Sôi Nổi Hội Thi Ẩm Thực Chào Mừng Ngày Gia Đình Việt Nam 28/6

Hội thi có 48 thành viên là những đoàn viên, người lao động trực tiếp, cán bộ, công chức, viên chức của 8 đội đến từ 25 tổ công đoàn trực thuộc Công đoàn cơ sở Trung tâm Y tế Hớn Quản tham gia tranh tài. Đây là dịp để mỗi đoàn viên, công nhân viên chức lao động (CNVCLĐ) trong toàn ngành thể hiện tài năng và có cơ hội thể hiện mình không chỉ giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp mà còn thực sự là những ông bố, bà mẹ khéo léo, đảm đang trong công việc tề gia nội trợ và một điều rất đặc biệt tại hội thi lần này là sự góp mặt của gần 10 nam CNVCLĐ, điều đó thể hiện vai trò của những người nam giới là biết chia sẻ, trách nhiệm trong cuộc sống, trong sinh hoạt để xây dựng những gia đình CNVCLĐ trong ngành thực sự bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

Sau thời gian hơn 120 phút thực hiện phần thi của mình, 8 đội dự thi đã tuân thủ đúng những quy chế, quy định của Ban tổ chức đề ra,

mỗi đội chịu trách nhiệm nấu 4 món với các tiêu chí: Món ăn ngon, độc đáo, cân bằng dinh dưỡng, hương vị hấp dẫn; Trình bày đẹp, đảm bảo VSATTP; Thuyết trình hay; Quá trình nấu và thuyết trình đảm bảo thời gian quy định, đủ khẩu phần cho 14 người ăn với đơn giá 1.000.000đ.

Được trổ tài bởi những bàn tay khéo léo, sáng tạo, mâm cơm gia đình mang đậm nét truyền thống được các đội dự thi hoàn thành không chỉ đa dạng về món ăn, đẹp về thẩm mỹ, ngon về chất lượng mà còn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các mâm cơm phong phú, đa dạng với nhiều món ăn khác nhau đủ chất dinh dưỡng cần thiết, cân đối giữa bốn nhóm thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, tinh bột, vitamin và khoáng chất. Bên cạnh đó, các đội thi còn có phần thuyết trình về các món ăn của mình vô cùng thuyết phục. Hoạt động sôi nổi, nghiêm túc cùng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tài nấu ăn khéo léo, các đội thi đã khiến Ban giám khảo rất khó khăn trong việc lựa chọn đội giành chiến thắng bởi các món ăn không chỉ ngon về chất lượng mà còn đẹp về hình thức.

Kết quả Ban tổ chức Hội thi đã trao 5 giải khuyến khích, 01 giải ba, 01 giải nhì và 01 giải nhất cho các đội tham dự cuộc thi.

Hội thi ẩm thực do Công đoàn cơ sở Trung tâm Y tế tổ chức đã khép lại với sự lưu luyến của 08 đội tham gia. Đây là đợt sinh hoạt đầy ý nghĩa trong CNVCLĐ toàn Ngành nhằm hướng tới kỷ niệm

90 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam, hưởng ứng tháng hành động phòng, chống bạo lực gia đình, kỷ niệm Ngày gia đình Việt Nam 28/6. Đây cũng là dịp

để mỗi cán bộ CNVCLĐ được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, thắt chặt sự đoàn kết trong cuộc sống cũng như trong công việc, đồng thời có những trải nghiệm thú vị để thể hiện tài năng, sự khéo léo, đảm đang trong việc nội trợ, chế biến cải thiện phục vụ bữa ăn ngon ở đơn vị cũng như tại gia đình.

Thông qua Hội thi, Công đoàn cơ sở Trung tâm Y tế Hớn Quản muốn gửi đến thông điệp: Mâm cơm gia đình

không chỉ là ngọn lửa gìn giữ hạnh phúc, tình yêu thương, sự gắn bó và nuôi dưỡng tình cảm giữa các thế hệ trong gia đình, nó còn thể hiện nét đẹp văn hóa trong ẩm thực của người Việt. Trải qua nhiều biến động về lịch sử, kinh tế, xã hội nhưng bữa cơm gia đình vẫn giữ nguyên giá trị tinh thần, thể hiện ý nghĩa nhân văn đẹp đẽ trong văn hóa ẩm thực của người Việt.

         

 Quỳnh Anh

Một số hình ảnh tại Hội thi

 

Bạn đang xem bài viết Ẩm Thực Việt Nam Xưa Và Nay Nổi Tiếng Bốn Phương trên website X-bikeman.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!